Hướng dẫn Chẩn đoán và điều trị Hội chứng viêm da dày sừng bàn tay, bàn chân

09:05, 05/05/2012
.

Ngày 4/5, Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Xuyên cho biết: Nhằm đáp ứng với diến tiến của bệnh viêm da bàn tay bàn chân hiện nay tại tỉnh Quảng Ngãi một cách hiệu quả, Bộ Y tế sau khi khảo sát, đánh giá diễn tiến lâm sàng và vi sinh học đã quyết định gọi tên căn bệnh tại tỉnh Quảng Ngãi là Hội chứng viêm da dày sừng bàn tay, bàn chân.

TIN LIÊN QUAN

Đoàn công tác Bộ Y tế lấy mẫu máu người dân mắc bệnh viêm da lạ ở xã Ba Điền, huyện miền núi Ba Tơ (Quảng Ngãi)
Đoàn công tác Bộ Y tế lấy mẫu máu người dân mắc bệnh viêm da lạ ở xã Ba Điền, huyện miền núi Ba Tơ (Quảng Ngãi)


 
Ngày 4/5, Bộ Y tế căn cứ Biên bản họp Hội đồng chuyên môn Xây dựng Hướng dẫn Chẩn đoán và điều trị Hội chứng viêm da dày sừng bàn tay, bàn chân tại Quảng Ngãi, ngày 02/5/2012 quyết định ban hành Hướng dẫn Chẩn đoán và điều trị bệnh này thay thế Quyết định số 248 ban hành ngày 31/01/2012 trước đó.

Từ ngày 19/4/2011 đến nay, tại các xã Ba Điền, Ba Xa, Ba Ngạc, Ba Tô, Ba Vinh của huyện Ba Tơ tỉnh Quảng Ngãi xuất hiện hơn 100 trường hợp với các triệu chứng: viêm da, dày sừng, bong vảy, khô, nứt nẻ ở bàn tay, bàn chân kèm theo tăng men gan (SGOT, SGPT). Trong đó có hàng chục ca tử vong. Dựa trên biểu hiện lâm sàng, hình ảnh mô bệnh học và kết quả điều trị, bước đầu Hội đồng chuyên môn Bộ Y tế nhận định đây là Hội chứng viêm da dày sừng bàn tay, bàn chân, căn nguyên đang được điều tra xác định. Đối với các ca bệnh sống trong vùng dịch tễ có các biểu hiện lâm sàng với các tổn thương cơ bản: mảng da đỏ thẫm, ranh giới rõ với da lành, dày sừng nứt nẻ, bong vảy ở bàn tay, bàn chân. Triệu chứng cơ năng: Đau rát tại thương tổn. Khi xét nghiệm: Có thể men gan (SGOT, SGPT) tăng.

Chẩn đoán phân biệt: dày sừng lòng bàn tay bàn chân di truyền; Viêm da cơ địa; Chàm vi khuẩn; Viêm kẽ; Sẩn ngứa; Nấm da và vảy nến. Bệnh được phân loại 2 mức độ nhẹ có thương tổn da như mô tả ở trên; Men gan (SGOT, SGPT) trong máu tăng không quá 5 lần. Nếu bệnh nhân có các biểu hiện sau là ở mức độ nặng: có tổn thương da như mô tả ở trên và kèm theo một trong các biểu hiện sau: Mệt mỏi, chán ăn nhiều; Men gan (SGOT, SPOT) tăng trên 5 lần; Da, củng mạc mắt vàng, tăng billirubin trong máu; Biểu hiện xuất huyết; Tỉ lệ Prothrombin máu giảm dưới 70%; Giảm tiểu cầu trong máu ngoại vi; Hạ đường huyết và tình trạng nhiễm trùng: Sốt, bạch cầu tăng hoặc giảm. Cần chú ý phát hiện những biến chứng và các bệnh kèm theo: nhiễm khuẩn huyết, sốc nhiễm khuẩn, sốt mò, sốt rét, viêm phổi, leptospira, viêm màng não, hôn mê, co giật. Theo đó, c ác đối tượng dễ có nguy cơ tiến triển nặng gồm: Trẻ em, người già, phụ nữ có thai, mắc các bệnh mạn tính, suy dinh dưỡng, thiếu vi chất, thiếu máu.

Mức độ nhẹ: Điều trị tại bệnh viện huyện hoặc các đơn vị chuyên khoa da liễu và điều trị tại chỗ tổn thương da: Thuốc chống viêm: Sử dụng các loại mỡ hoặc kem có corticoid bôi tổn thương buổi sáng; Thuốc bạt sừng bong vảy: Mỡ salicylic 2%-10%, bôi buổi tối Kem làm mềm da, dịu da: Vaselin, kem kẽm, bôi vào buổi trưa, buổi chiều; Nếu có bội nhiễm bôi các mỡ hoặc kem kháng sinh. Mức độ nặng và biến chứng : Điều trị tại khoa Hồi sức cấp cứu của các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh hoặc trung ương. Khi cần phải hội chẩn với các chuyên khoa có liên quan.

Trường hợp có nhiễm trùng kèm theo cần hỏi bệnh, thăm khám kỹ định hướng chẩn đoán sớm, tích cực tìm nguyên nhân: chụp phổi, cấy máu tìm vi khuẩn; ký sinh trùng sốt rét, làm xét nghiệm huyết thanh chẩn đoán rickettsia, leptospira, công thức máu, khí máu, đường máu, điện giải đồ, urê, creatinin... Phòng bệnh thực hiện vệ sinh môi trường sạch sẽ; Đi giầy dép; Tăng cường rửa tay, chân bằng nước sạch, nhất là sau khi lao động; Tránh tiếp xúc với các hoá chất, nhất là các thuốc trừ sâu, diệt cỏ; Sử dụng các phương tiện bảo hộ an toàn, đúng quy cách trong khi lao động. Ăn uống đầy đủ, hợp vệ sinh Nếu có biểu hiện sốt rét lâm sàng hoặc tìm thấy ký sinh trùng sốt rét trong lam máu: điều trị bằng thuốc diệt ký sinh trùng sốt rét; Nếu nghi ngờ nhiễm trùng huyết cần phải điều trị ngay và theo dõi sát để phát hiện và điều trị kịp thời sốc nhiễm khuẩn: Kháng sinh phổ rộng, liều cao, đường tĩnh mạch; Truyền dịch đảm bảo khối lượng tuần hoàn. Sử dụng các thuốc vận mạch để duy trì huyết áp: Dopamin hoặc và phối hợp noradrenalin. Điều chỉnh cân bằng nước, điện giải và thăng bằng kiềm toan. Chỉ định lọc máu: Suy thận, suy gan, nhiễm toan chuyển hóa nặng, sốc nhiễm khuẩn, suy đa tạng... /.

 

Theo TC Tuyên giáo


.