Bế mạc Hội nghị Tỉnh ủy lần thứ 12 (Khóa XVIII)

Thứ Tư, 17:11, 24/04/2013 [GMT+7]
.

(QNĐT)- Sau 2 ngày làm việc với tinh thần khẩn trương, nghiêm túc, sáng 24/4, Hội nghị Tỉnh ủy lần thứ 12 (khóa XVIII) đã hoàn thành chương trình đề ra và bế mạc.

TIN LIÊN QUAN


Kết luận về kết quả sau 2 năm thực hiện Nghị quyết 01 về phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh của Bí thư Tỉnh ủy Võ Văn Thưởng nhấn mạnh: Qua hai năm triển khai thực hiện Nghị quyết 01, công nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi tiếp tục có bước phát triển; tỷ trọng công nghiệp chiếm 56,5% trong GDP của tỉnh; giá trị sản xuất công nghiệp tăng 1,86%, giá trị xuất khẩu tăng 21,68%/năm. Kết cấu hạ tầng KCN, KKT tiếp tục được đầu tư.

Công tác thu hút đầu tư tiếp tục được đẩy mạnh. Trong 2 năm qua đã cấp phép cho 46 dự án đầu tư với tổng vốn đăng ký là 16.499 tỷ đồng, trong đó một số dự án lớn có ý nghĩa quan trọng tạo tiền đề, động lực thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh như dự án phức hợp công nghiệp-đô thị-dịch vụ VSIP, dự án nhiệt điện Sembcorp, dư án liên doanh của Tập đoàn JFE Nhật Bản với Nhà máy thép Guang Lian…

 

Quang cảnh ngày làm việc thứ 2.
Quang cảnh hội nghị


Tuy nhiên, công nghiệp trên địa bàn tỉnh phát triển vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế; công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp nhẹ, công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn phát triển chậm. Chất lượng tăng trưởng các ngành công nghiệp còn thấp; các ngành công nghiệp có quy mô lớn, giá trị gia tăng cao phát triển chậm; dịch vụ, đô thị, nguồn nhân lực phát triển chưa theo kịp với phát triển công nghiệp; kết cấu hạ tầng các KCN, KKT chưa đồng bộ, thiếu hấp dẫn nhà đầu tư…

Nguyên nhân của những yếu kém trên một phần do Nghị quyết 01 triển khai thực hiện trong bối cảnh tình hình kinh tế thế giới và trong nước gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, nguyên nhân chủ quan là do một số cấp ủy, tổ chức đảng, mặt trận, đoàn thể cụ thể hóa thực hiện Nghị quyết 01 chưa sát với tình hình thực tế, chưa phát huy được tối đa tiềm năng và lợi thế của địa phương. Công tác quản lý nhà nước về công nghiệp còn nhiều hạn chế, yếu kém. Quy hoạch và quản lý quy hoạch chưa cao…

Trên cơ sở thực trạng phát triển kinh tế-xã hội và phát triển công nghiệp, đồng thời trên cơ sở dự báo tình hình kinh tế-xã hội trong thời gian đến, Hội nghị Tỉnh ủy lần thứ 12, khóa XVIII đã điều chỉnh một số chỉ tiêu đến năm 2015 trong Nghị quyết 01 cụ thể như:

Tỷ trọng công nghiệp-xây dựng trong GDP đạt 59,7% (nghị quyết 01 là 61-62%), trong đó tỷ trọng công nghiệp đạt 53,6% (Nghị quyết 01 là 52,13%). Giá trị sản xuất công nghiệp đạt 21.997 tỷ đồng, tăng bình quân 4,4%/năm, nếu không tính sản phẩm Nhà máy lọc dầu đạt 7.589 tỷ đồng. Lao động trong ngành công nghiệp đạt khoảng 75.000-80.000 người (Nghị quyết 01 là 120.000 người).

 

Đại biểu tham gia phát biểu tại hội nghị.
Đại biểu tham gia phát biểu tại hội nghị.

Đối với Nghị quyết 02 về phát triển đô thị trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2011-2015 và định hướng đến năm 2020, Kết luận của Ban Thường vụ Tỉnh ủy cho rằng: Sau 2 năm thực hiện Nghị quyết 02, việc phát triển đô thị trên địa bàn tỉnh đạt được một số kết quả. Kinh tế-xã hội khu vực đô thị có bước phát triển, tốc độ tăng giá trị sản xuất khu đô thị bình quân hàng năm đạt 5,65%; công tác lập, phê duyệt quy hoạch, điều chỉnh bổ sung quy hoạch đô thị đang được các ngành, địa phương chú trọng thực hiện.

Một số địa phương đã đẩy mạnh huy động các nguồn lực xã hội để đầu tư phát triển đô thị, đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng được quan tâm (trong 2 năm đã có 95 dự án đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng với tổng mức đầu tư trên 1.300 tỷ đồng); tỷ lệ đô thị hóa toàn tỉnh năm 2012 đạt 14,74%; môi trường văn hóa, văn minh đô thị tiếp tục được cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo tại các đô thị giảm còn 7,34%, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về đô thị được tăng cường; quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội ở các đô thị cơ bản được ổn định.

Tuy nhiên, kết quả xây dựng và phát triển đô thị trong 2 năm qua còn nhiều hạn chế, yếu kém. Trong đó, công tác tuyên truyền, phổ biến Nghị quyết 02 chưa thường xuyên và sâu rộng; chưa chú trọng kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện Nghị quyết. Quá trình đô thị hóa còn nhiều hạn chế. Hầu hết các chỉ tiêu đạt thấp; tiến độ triển khai lập, phê duyệt một số đồ án quy hoạch chậm, chất lượng thấp; công tác quản lý, thực hiện quy hoạch còn bấp cập, rà soát điều chỉnh, bổ sung quy hoạch chưa thường xuyên. Việc huy động các thành phần kinh tế tham gia phát triển đô thị còn hạn chế; phân bổ nguồn lực phát triển đô thị chưa xứng với nhiệm vụ đột phá…

Hội nghị Tỉnh ủy lần thứ 12 (khóa XVII) đã điều chỉnh một số chỉ tiêu chủ yếu đến năm 2015 trong Nghị quyết 02 như: Tốc độ tăng giá trị sản xuất đô thị bình quân hàng năm đạt 10-12% (chỉ tiêu Nghị quyết 02 là 15-17%); riêng thành phố Quảng Ngãi đạt 15-18% và KKT Dung Quất đạt 5-7% (Chỉ tiêu Nghị quyết 02 là 18-20%). Tỷ lệ đô thị hóa đến cuối năm 2015 đạt 17% (Nghị quyết 02 là 20%).

Về mục tiêu và định hướng phát triển các đô thị, trong đó Thành phố Quảng Ngãi giữ nguyên mục tiêu xây dựng thành phố đạt tiêu chuẩn đô thị loại II vào năm 2015. Thành phố Dung Quất điều chỉnh nhiệm vụ và xây dựng KKT Dung Quất trở thành thành phố trực thuộc tỉnh sang giai đoạn sau năm 2015. Điều chỉnh tỷ lệ hóa đô thị đến năm 2015 từ 40-43% xuống 16,5%. Giữ nguyên mục tiêu xây dựng đô thị Đức Phổ và thị trấn Di Lăng. Các đô thị trung tâm cấp huyện như Bình Sơn, Tư Nghĩa, Mộ Đức, Ba Tơ vẫn giữ nguyên như mục tiêu như Nghị quyết 02…
 
Trong buổi sáng, Hội nghị cũng đã nghe báo cáo sơ kết một năm thực hiện Nghị quyết số 12 của Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”.
 
Qua một năm triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” đã tạo được đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, có ý nghĩa trong toàn Đảng bộ, có giá trị giáo dục, nâng cao nhận thức, ý thức tự phê bình của cán bộ, đảng viên, tạo được nhiều chuyển biến trong nhận thức và hành động.
 
Về việc thực hiện Nghị quyết TƯ 4 trong thời gian tới, Bí thư Tỉnh ủy Võ Văn Thưởng đề nghị các cấp ủy Đảng cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc khắc phục khuyết điểm, hạn chế đã được chỉ ra sau đợt kiểm điểm tự phê bình, phê bình. Về công tác cán bộ, Bí thư Tỉnh ủy nhấn mạnh, đây là nhiệm vụ then chốt của then chốt, cán bộ nào phong trào nấy, mọi chuyện đều do cán bộ mà ra nên sau kiểm điểm Tỉnh ủy đã điều chỉnh, phân công lại cán bộ cho phù hợp, dựa trên yêu cầu công việc.
 
Sắp tới, Tỉnh ủy sẽ xây dựng tiêu chí đánh giá cán bộ hàng năm theo hướng sát với yêu cầu công việc, coi đây là tiêu chí đề bạt bổ nhiệm cán bộ, xây dựng quy trình lấy phiếu tín nhiệm đối với các chức danh do Tỉnh ủy, HĐND bầu và từ năm 2013 trở đi việc kiểm điểm đảng viên hàng năm phải gắn với các nội dung của Nghị quyết TƯ 4.



M.Toàn
 

 

.