Mưu sinh... trên sóng biển

21:48, 30/03/2019 [GMT+7]
.

(Báo Quảng Ngãi)- Những thân người ẩn hiện giữa muôn trùng sóng nước trông thật nhỏ nhoi, hiểm nguy cận kề. Sau cả buổi dầm mình trong làn nước lạnh buông - kéo lưới hay thả câu, họ kiếm được vài ký cá mang về bán ở chợ quê, chế biến món ăn trong bữa cơm thường ngày. Nhưng biển ngày càng “đói” cá, nên việc mưu sinh của họ cũng phập phù theo dòng hải lưu xuôi nam, ngược bắc.  

TIN LIÊN QUAN

Vượt sóng dữ

Hơn 3 giờ sáng, lão ngư Trương Đình Thạnh ở làng chài Quy Thiện, xã Phổ Khánh (Đức Phổ) vác ống lội, mang túi đựng lưới rời nhà, lội bộ ra bãi biển. Nhiều ngư dân cùng làng tụ họp trên bờ cát rì rầm chuyện trò lẫn trong tiếng sóng ầm ào. Ngư dân kiểm tra ống lội (ống nhựa lớn hơn bắp vế, dài trên sải tay được bịt kín 2 đầu) và cẩn thận cột chặt túi đựng lưới vào trước ngực. Họ ôm ống vào bên nách rồi lội xuống nước tìm cách bơi ra xa.

Sóng dữ gầm gừ đe dọa, quăng quật, xô họ ngược vào bờ, tiếng “ối cha!” thốt lên trong đêm tối. Dưới lớp sóng cuồng nộ ven bờ là những gò cát hay vũng sâu ẩn chứa hiểm họa khôn lường. Sóng có thể đánh gãy đôi ống lội, cuốn ngư dân đang chới với ra xa nếu bị đẩy vào vùng nước như thế, dẫu có bơi giỏi như kình ngư cũng khó tránh kiếp nạn.

Những ngư dân vượt sóng gần bờ ra biển buông lưới.
Những ngư dân vượt sóng gần bờ ra biển buông lưới.


Không bỏ cuộc, họ ôm chặt ống rồi lặn qua từng cơn sóng để tránh bị đánh dạt vào bờ. Bỏ lại những con sóng gần bờ đang gào thét sau lưng, họ hướng ra khơi trong làn nước lạnh buốt. Khi cách xa bờ, họ ngồi trên ống lội, hai bắp vế kẹp ống vào giữa, rồi dùng hai chân quạt nước thay cho mái chèo và bánh lái, hai tay tháo túi đựng lưới trước ngực và buông vào lòng biển. Những chiếc đèn nhỏ gắn hai đầu lưới nhấp nháy, bập bềnh trên mặt nước báo hiệu sự hiện diện của ngư dân can trường trên biển đêm.

Khi những tấm lưới chìm vào lòng biển, họ ôm ống lội vượt sóng vào bờ với nỗi hiểm nguy cận kề. Mọi người gom củi và rác khô đốt lửa để sưởi ấm làn da tím tái, hai hàm răng va vào nhau liên hồi vì rét lạnh. “Ngại nhất là những con sóng gần bờ bổ mạnh, ra vào rất nguy hiểm. Nhưng sau khi thả lưới chúng tôi phải vào bờ sưởi ấm, chứ ở ngoài đó lạnh lắm...”, ngư dân Trần Thật tâm sự.

Trời sáng tỏ mặt người, những ngọn đèn cảm biến gắn hai đầu lưới thôi nhấp nháy. Những ngư dân ôm ống vào bên nách rồi tìm cách vượt sóng ra biển thu lưới trước khi về nhà với ánh mắt mong chờ của người thân. Gặp bữa may mắn, mỗi người thu được trên dưới mười ký cá thửng, cá chét, cá chan... với giá bán vài trăm nghìn đồng. Lắm lúc, chỉ vài con cá nhỏ mang về chế biến món ăn trong bữa cơm thường ngày. Dẫu vậy, họ vẫn gắn đời với biển để mưu sinh.

“Nghề ngồi ống thả lưới hay buông câu ở vùng biển bãi ngang thì không giàu nổi đâu! Bữa nhiều thì mang về cho bà con trong xóm và bán chút đỉnh hay để dành ăn trong gia đình. Nhiều lúc mang lưới về không, nhưng chúng tôi vẫn ra biển, vì nếu chỉ làm nông thì không đủ sống. Những hôm biển lặng, chúng tôi tản ra thả lưới, biển động thì đi gần với nhau để còn ứng cứu kịp thời khi xảy ra sự cố”, lão ngư Trương Đình Thạnh cho biết.

Nhọc nhằn mưu sinh

“Nghề ngồi ống thả lưới hay buông câu ở vùng biển bãi ngang thì không giàu nổi đâu! Nhiều lúc mang lưới về không, nhưng chúng tôi vẫn ra biển, vì nếu chỉ làm nông thì không đủ sống”.


Lão ngư TRƯƠNG ĐÌNH THẠNH, ở làng chài Quy Thiện, xã Phổ Khánh (Đức Phổ)

Thuở trước, nhiều người ở Quy Thiện sử dụng tre đằng ngà làm ống lội ra biển thả lưới, buông câu. Họ dùng rựa vót láng cho ống tre bền chắc, sắm dăm bảy tấm lưới hay trăm mét dây cước và ít lưỡi câu rồi cùng nhau bập bềnh trên sóng nước.

Sớm tinh mơ, lão ngư Trương Du vác ống, mang dây câu ra bãi biển, dùng chân bới cát vừa rút nước bắt cá chai thân lớn bằng đầu đũa ăn cơm làm mồi câu. Ông nhìn ra xa để ước chừng sức quăng quật của những con sóng khi chúng vào đến bờ rồi cẩn thận ôm ống bơi ra biển. Kinh nghiệm gần 40 năm hành nghề câu giúp ông hiểu rõ những cơn sóng gần bờ.

Ôm ống men theo sóng bơi ra biển cách bờ trên dưới một hải lý, ông Du leo lên ngồi trên ống rồi móc mồi vào lưỡi câu thả chìm trong làn nước xanh thẳm. Thỏi chì nặng lạng rưỡi gắn đầu sợi cước kéo mồi câu xuống gần đáy, đầu dây còn lại được cột vào giỏ đựng cá đeo trước ngực. Ông luôn tay giật hai sợi cước để nhử cá rồi vội vã kéo dây khi phát hiện cá thửng cắn câu. Trước khi cho cá vào giỏ, ông “móc ruột nó câu nó” thay cho những con cá chai nhỏ bé vừa bị bắt trong bờ.

Trưa đứng bóng. Dưới nắng chói chang, đôi tay ông vẫn nhịp nhàng với hai sợi cước mỏng. Lúc cá giật liên hồi, lão ngư dân hối hả kéo dây, gỡ cá, móc mồi rồi buông câu. Đôi tay chai sần của ông bị sợi cước cứa đứt, nước mặn thấm vào vết thương rát buốt. Dòng hải lưu cuốn trôi chiếc ống cùng thân người nhỏ bé trôi xuôi nam - ngược bắc. “Từ tháng 1 đến tháng 6 âm lịch, hải lưu chảy theo hướng nam - bắc và tháng 7 đến tháng chạp thì ngược lại. Nhiều bữa vào bờ phải vác ống lội bộ 4 - 5 cây số mới về đến bãi biển gần nhà”, ông Du bộc bạch.

Những ngư dân làng chài Quy Thiện và nhiều nơi ven biển Đức Phổ có làn da sạm đen vì nắng gió. Đôi tay của họ chai sần vì thường bị cứa đứt khi kéo lưới, dây câu trên biển. Nhưng đấy là “chuyện thường ngày” với những ngư dân nơi đây. Điều họ e ngại là sóng dữ khi biển động, cá vào gần bờ nhưng không thể đánh bắt vì phương tiện thô sơ. “Lúc mới làm, tôi thường bị đứt tay khi kéo lưới, nhưng giờ thì quen rồi, không ngại gì cả. Ngặt nỗi, sức khỏe ngày càng yếu nên sóng lớn không thể ra biển. Tiếc lắm!”, lão ngư Trương Đình Thạnh tâm sự.     

“Biển đói”

Dẫu hiểm nguy, nhiều ngư dân vẫn gắn bó với chiếc ống thô sơ khi mưu sinh trên sóng nước. Tôi hỏi: “Sao không làm thuê cho chủ tàu công suất lớn hay sắm ghe đi biển?”. Ông Du cười buồn: “Đi bạn trên tàu lớn nhiều khi làm ăn thất bát, tiền công không đủ lo cho gia đình. Đóng ghe nhỏ cũng mất vài chục triệu đồng.

Vùng biển này sóng lớn, nhưng ít cá, đi ghe vài người, thì tiền chia nhau chẳng được bao nhiêu. Đi thúng chai thì sóng lớn xô lật hay hải lưu cuốn trôi xa, không thể câu hay thả lưới được. Chúng tôi cũng thử làm, nhưng không hiệu quả, đành phải gắn bó với chiếc ống lội. Ở làng chài Quy Thiện có hơn 20 người ra biển đánh bắt bằng ống lội”.

 Trở về sau cả buổi bập bềnh trên sóng nước.
Trở về sau cả buổi bập bềnh trên sóng nước.


Thuở trước, vùng biển bãi ngang huyện Đức Phổ lắm cá tôm, là nơi mưu sinh của những ngư dân nghèo. Sau buổi buông, kéo lưới, mỗi ngư dân thu được trên dưới mười ký, có bữa đến 30 ký cá. Ngư dân giật dây câu kiếm được 5 - 7 ký cá thửng tươi rói, lấp lánh vảy bạc. Rồi những chiếc tàu gỗ hành nghề giã cào hiện diện ven bờ, cá lớn cá bé chui tọt vào lưới trước tiếng thở dài của những người như ông Du, ông Thạnh...

Vùng biển gần bờ vắng cá, ngư dân và ống lội phải ra xa hơn nhưng lượng hải sản đánh bắt được ít hơn nhiều so với trước. “Họ đánh giã cào gần bờ thì làm sao còn cá?! Nhiều lúc giàn cào của họ cuốn cả lưới của tôi thả trên biển. Biển ngày càng đói. Chúng tôi mong muốn đơn vị chức năng sớm ngăn chặn tàu giã cào theo kiểu hủy diệt để tôm cá sinh sôi trở lại”, ông Thạnh đề đạt.

Biển “dữ dội và dịu êm”. Những ngư dân vẫn ẩn hiện giữa sóng nước để mưu sinh với bao nỗi hiểm nguy và nhọc nhằn. Nhưng biển và người luôn song hành như bao đời vẫn thế!


Bài, ảnh: TRANG THY

.
.