,
Cập nhật lúc 09:32, Thursday, 06/09/2012

Quan hệ đặc biệt Việt Nam- Lào: Nguồn sức mạnh của hai dân tộc Việt Nam, Lào


(QNĐT)- Trong lịch sử quan hệ quốc tế từ xưa đến nay, quan hệ đặc biệt Việt Nam- Lào, Lào- Việt Nam là một điển hình, một tấm gương mẫu mực, hiếm có về sự gắn kết bền chặt, thủy chung, trong sáng và đầy hiệu quả giữa hai dân tộc đấu tranh vì độc lập, tự do và tiến bộ xã hội.

TIN LIÊN QUAN


Nét nổi bật mang tầm cao lịch sử là: Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên do Nguyễn Ái Quốc sáng lập vào tháng 6/1925, đến tháng 2/1927, tổ chức này gây dựng được cơ sở ở Lào. Chi bộ Thanh niên Cộng sản đầu tiên cũng được thành lập vào cùng thời gian này; đường dây liên lạc giữa nhiều thị trấn ở Lào với Việt Nam đã được tổ chức. Đó cũng là địa bàn đầu tiên để bổ sung cơ sở thực tiễn cho công tác chính trị, tư tưởng và tổ chức của Nguyễn Ái Quốc về phong trào giải phóng dân tộc ở ba nước Đông Dương.

Chủ tịch Hồ Chí Minh trao đổi với Chủ tịch Kaysone Phomvihane tại Hà Nội năm 1966.
Chủ tịch Hồ Chí Minh trao đổi với Chủ tịch Kaysone Phomvihane tại Hà Nội năm 1966.


Ngày 3/2/1930 Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, cũng là thời điểm mở đầu những trang sử vẻ vang của quan hệ Việt Nam- Lào. Tháng 10/1930, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định đổi tên Đảng Cộng sản Việt Nam thành Đảng Cộng sản Đông Dương, đặt phong trào cách mạng Việt Nam và Lào dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương.

Tháng 9/1934, Ban chấp hành Đảng bộ lâm thời Ai Lao được thành lập. Đó là một mốc son rất quan trọng trong lịch sử phong trào đấu tranh yêu nước của nhân dân các bộ tộc Lào và khẳng định vai trò lãnh đạo cách mạng của Đảng bộ Lào cũng như quan hệ giữa phong trào cách mạng của hai nước Việt Nam - Lào. Giai đoạn 1930- 1939, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, phong trào cách mạng của nhân dân hai nước Việt Nam và Lào có nhiều ảnh hưởng, thúc đẩy cùng nhau phát triển.

Đặc biệt, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng tháng 5/1941 ở Cao Bằng do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chủ trì đã quyết định đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu đối với cách mạng Đông Dương. Năm 1944, Ban vận động Việt kiều chuyển thành Hội Việt kiều cứu quốc và thành lập Đội Tiên phong. Từ đó các chi bộ Đảng ở Viêng Chăn, Thà Khẹc, Savẳn-nàkhẹt lần lượt được củng cố. Đến đầu năm 1945, Tổng Hội Việt kiều cứu quốc toàn Thái- Lào, một chi nhánh của  Mặt trận Việt Minh được thành lập nhằm tham gia công cuộc giành độc lập.

Ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp, độc chiếm Đông Dương, Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương họp và ban hành Chỉ thị nổi tiếng  "Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Từ đó, cao trào kháng Nhật phát triển mạnh mẽ ở Việt Nam và tác động, hỗ trợ tích cực  đến các lực lượng yêu nước Lào đứng lên đấu tranh giành độc lập. Vào tháng 4/1945, tại Thái Lan, một nhóm người Lào đứng ra thành lập tổ chức “Lào Ítxalạ” (Lào tự do), tập hợp công chức, học sinh có tinh thần yêu nước, dựa vào phe Đông Minh, chống Nhật để giành độc lập.

Ngày 14/8/1945, Nhật đầu hàng Đồng Minh vô điều kiện, vào thời điểm lịch sử đó, Hội nghị của Đảng Cộng sản Đông Dương họp từ ngày 14 đến 15/8/1945, phát động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Ở Việt Nam, cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám diễn ra sôi động và kết thúc thắng lợi hoàn toàn trong cả nước chỉ trong vòng 15 ngày.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc khởi nghĩa giành chính quyền của nhân dân Lào. Dưới sự lãnh đạo kịp thời, đúng đắn của Xứ ủy Ai Lao, ngày 23/8/1945, một cuộc mittinh lớn diễn ra ở khu vực chợ Mới đã tạo điều kiện cho các địa phương khác của Lào đứng lên khởi nghĩa thắng lợi.

Ngày 4/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh mời Hoàng thân Xuphanuvông lúc bấy giờ đang ở Vinh ra Hà Nội. Cuộc gặp gỡ đó có tác động mạnh mẽ, quyết định đối với Hoàng thân Xuphanuvông trong việc chọn lựa con đường làm cách mạng. Ngày 3/10/1945, nhân dân tỉnh Savẳnnàkhẹt đón chào Hoàng thân Xuphanuvông trở về tham gia Chính phủ Lào, Hoàng thân tuyên bố: “Quan hệ Lào- Việt từ nay sẽ mở ra một kỷ nguyên mới...”.

Ngày 12/10/1945, tại cuộc mit tinh lớn ở Viêng Chăn, Chính phủ Lào Ítxalạ thành lập và làm lễ ra mắt, trịnh trọng tuyên bố nền độc lập. Hàng vạn nhân dân Lào phấn khởi hô vang các khẩu hiệu hoan nghênh Chính phủ và nền độc lập, đồng thời cổ súy tinh thần Lào- Việt đoàn kết. Sự ra đời của Chính phủ nước Việt Nam và Chính phủ Lào cùng những mong muốn của hai bên về xây dựng mối quan hệ vững chãi là một trong những cơ sở đưa tình đoàn kết, giúp đỡ nhau lên tầm liên minh chiến đấu.

Sau khi giành được chính quyền, Chính phủ hai nước đã ký Hiệp ước tương trợ Lào- Việt và Hiệp định về tổ chức Liên quân Lào- Việt , đặt cơ sở pháp lý đầu tiên cho sự  hợp tác và liên minh chiến đấu chống kẻ thù chung. Trong những năm 1945- 1948, liên minh chiến đấu Việt Nam -Lào thu được nhiều kết quả, nhất là quan hệ đoàn kết. Tháng 1/1949, Trung ương Đảng quyết định “mở rộng mặt trận Lào- Miên”, củng cố lực lượng Việt Nam làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào và Campuchia.

Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam: vận động nhân dân và để cán bộ Lào, Campuchia tự đảm trách công việc; cán bộ Việt Nam chỉ làm cố vấn, thành lập Quân giải phóng Lào. Tháng 10/1949, các lực lượng quân sự của Việt Nam làm nhiệm vụ quốc tế tại Lào được tổ chức thành hệ thống riêng và lấy danh nghĩa là Quân tình nguyện.  Sau khi Chính phủ kháng chiến Lào được thành lập vào tháng 8 năm 1950, do Hoàng thân Xuphanuvông làm Chủ tịch kiêm Thủ tướng Chính phủ nhấn mạnh tăng cường đoàn kết quốc tế, nhất là với Việt Nam và Campuchia, cùng nhau đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược.

 Với sự  nỗ lực, đoàn kết và phối hợp của Việt Nam, trong hai năm 1951- 1952 cuộc kháng chiến của nhân dân Lào giành được kết quả quan trọng về chính trị, quân sự, văn hóa, ngoại giao. Sau chiến thắng Thượng Lào, Ban cán sự Đảng Lao động Việt Nam tại Lào đã giúp đỡ bạn thành lập “Ban vận động thành lập Đảng nhân dân Lào”.

Ngày 7/5/1954, tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ của Pháp bị tiêu diệt hoàn toàn. Chiến công oanh liệt này đã góp phần thúc đẩy quá trình tan rã của chủ nghĩa thực dân cũ. Đó là thắng lợi của khối đoàn kết chiến đấu giữa quân đội và nhân dân ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia.

Sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, cách mạng hai nước Việt Nam- Lào bước vào thời kỳ tập trung xây dựng lực lượng, đẩy mạnh đấu tranh để giữ vững hòa bình, độc lập, thống nhất ở mỗi nước. Tuy nhiên đế quốc Mỹ ra sức can thiệp vào miền Nam Việt Nam và Lào với tham vọng xâm lược và tấn công vào các nước xã hội chủ nghĩa.

Sau khi Đảng nhân dân Lào ra đời,  là nhân tố trọng yếu có ý nghĩa thúc đẩy quan hệ đoàn kết giữa hai nước ngày thêm vững chắc. Ngày 10/1/1958, Ban chỉ đạo Đảng nhân dân Lào gửi thư cho Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng Lao động Việt Nam khẳng định về sự đóng góp quan trọng của Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đối với cách mạng Lào.

Do bị thất bại nặng nề trên các mặt trận, ngày 23/7/1962, đế quốc Mỹ buộc phải ký kết Hiệp định Giơnevơ công nhận nền độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Lào. Đến ngày 5/9/1962, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Vương quốc Lào chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “...Tình nghĩa láng giềng anh em Việt - Lào thật là thắm thiết không bao giờ phai nhạt được...”

Từ năm 1962 đến năm 1975, với sự nỗ lực vượt bậc của Đảng nhân dân cách mạng Lào, cùng với sự đoàn kết giúp đỡ trong sáng của Việt Nam, cách mạng Lào đã lớn mạnh và giành nhiều thắng lợi quan trọng trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược.  

Những thắng lợi to lớn của cách mạng và nhân dân Việt Nam, nhất là chiến thắng giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước vào ngày 30/4/1975. Ngày 5/5/1975, Bộ Chính trị Trung ương Đảng nhân dân cách mạng Lào quyết định phát động toàn Đảng toàn dân, toàn quân Lào nổi dậy giành chính quyền thắng lợi.

Đến tháng 12/1975, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào ra đời; đó là thắng lợi quan trọng, vẻ vang của mối quan hệ đặc biệt, liên minh đoàn kết chiến đấu, thủy chung giữa hai dân tộc Việt Nam- Lào.

Từ sau năm 1975 đến nay, quan hệ Việt Nam- Lào bước sang một trang sử mới: từ liên minh chiến đấu chung một chiến hào sang hợp tác toàn diện giữa hai quốc gia có nền độc lập, chủ quyền.

Vào ngày 18/7/1977, Hiệp ước hữu nghị và hợp tác toàn diện giữa Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt nam và Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào được ký kết.  Đó là Hiệp ước toàn diện, chiến lược lâu dài, tạo cơ sở chính trị và pháp lý quan trọng để củng cố và tăng cường tình đoàn kết, mối quan hệ đặc biệt Việt Nam- Lào. Đây là mốc son lịch sử quan trọng đánh dấu bước ngoặc mới trong quan hệ giữa hai nước.

Sau 35 năm tiến hành hợp tác toàn diện Việt Nam -Lào, Lào -Việt Nam đã đạt những thành quả to lớn, rất đáng tự hào. Đó là trong lĩnh vực chính trị và đối ngoại, quốc phòng, an ninh; các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, khoa học, kỹ thuật, hợp tác giữa các địa phương và ngoại giao nhân dân. Cùng với hợp tác toàn diện, việc giải quyết thành công vấn đề biên giới giữa hai nước là một thành tựu nổi bật, quan trọng.    

 Chúng ta vô cùng tự hào khẳng định: Quan hệ đặc biệt Việt Nam- Lào, Lào- Việt Nam phát triển từ quan hệ truyền thống, do Chủ tịch Hồ Chí Minh xây dựng nền móng và chính Người cùng các thế hệ lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước, nhân dân hai nước dày công vun đắp, quyết tâm gìn giữ, phát triển.

Trải qua nhiều hy sinh, gian khổ vì nền độc lập, tự do, hạnh phúc của nhân dân hai nước, mối quan hệ này đã trở thành quy luật sống còn và sức mạnh kỳ diệu đưa đến thắng lợi vĩ đại, vẻ vang của Việt Nam và Lào trong đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ đất nước, cùng nhau phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.


Tuấn Anh
 

http://baoquangngai.com.vn/channel/2023/201209/Quan-he-dac-biet-Viet-Nam-Lao-Nguon-suc-manh-la-di-san-van-hoa-cua-hai-dan-toc-Viet-Nam-Lao-2184296/
,
Ý KIẾN BẠN ĐỌC (Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu. Chúng tôi có thể sẽ biên tập lại nội dung phản hồi của quý vị để phù hợp với tiêu chí chung của website)
,
Hai điều ước để thực hiện Nghị Quyết TW4
Chỉ cần đội ngũ cán bộ chủ chốt gương mẫu thực sự thì mọi chuyện sẽ có chuyển biến rõ nét. Vậy đội ngũ cán bộ chủ chốt ở đây là ai? Đó là cán bộ cấp ủy, cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. Mỗi cấp trước mắt cần khoảng 2/3 số cán bộ gương mẫu, trong đó có cán bộ chủ chốt và người đứng đầu gương mẫu.
,
,
,