Giao thừa Bính Thân 08-02-2016
  • 00

    Ngày

  • 00

    Giờ

  • 00

    Phút

  • 00

    Giây

abc
.
,
Ký ức ngày về...
Cập nhật lúc 10:33, Thứ Tư, 05/02/2014 (GMT+7)

(Báo Quảng Ngãi)- Tháng 6.1989, tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa VIII đã ra Nghị quyết tách tỉnh Nghĩa Bình thành hai tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định. Đây là một quyết định đúng đắn, đáp ứng nguyện vọng tha thiết của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân tỉnh Quảng Ngãi. Ngày về đã gần 25 năm, nhưng thời khắc lịch sử của buổi đầu tách tỉnh vẫn còn nguyên vẹn trong ký ức của những cán bộ thời bấy giờ.

Sau giải phóng năm 1975, Bộ Chính trị có chủ trương sáp nhập 52 tỉnh nhỏ thành 21 tỉnh lớn. Thực hiện chủ trương đó, tỉnh Quảng Ngãi cùng với tỉnh Bình Định sáp nhập trở thành đơn vị hành chính mới là tỉnh Nghĩa Bình. Suốt gần 14 năm Nghĩa Bình là tỉnh có nhiều tiềm năng, đã đóng góp nhiều sức người, sức của cho đất nước.

 

Đồng chí Võ Văn Kiệt đi thị sát cảng Dung Quất vào năm 1995
Đồng chí Võ Văn Kiệt đi thị sát cảng Dung Quất vào năm 1995


Tuy nhiên trong cơ chế tập trung bao cấp, tỉnh Nghĩa Bình cũng như hầu hết các tỉnh trong cả nước không thoát khỏi tình trạng trì trệ đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của từng địa phương, đời sống nhân dân hết sức khó khăn, việc quản lý gặp nhiều lúng túng. Thấy được những bất cập đó, tháng 3.1989 Bộ Chính trị có thống nhất tách tỉnh Nghĩa Bình thành hai tỉnh Quảng Ngãi và tỉnh Bình Định và kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa VIII đã thông qua quyết định này. Và từ ngày 1.7.1989 tỉnh Quảng Ngãi trở lại với  tên gọi của mình. Đây là sự mong đợi trên chục năm của cán bộ và nhân dân Quảng Ngãi.

Làm lại từ đầu bao giờ cũng khó khăn, nhất là trong thời điểm đó cái ưu tiên không dành cho người ra đi. Nhưng với niềm phấn khởi lớn, trong những ngày đầu gian khó ấy, từ lãnh đạo tỉnh, đến mỗi cán bộ, đảng  viên và người dân đều nỗ lực ở mức cao nhất để vượt qua muôn vàn khó khăn trong những ngày đầu tái lập tỉnh. Nhắc lại thời khắc “Quảng Ngãi về lại Quảng Ngãi” của 25 năm về trước, đồng chí Từ Tân Vũ - Nguyên Bí thư Thị uỷ Quảng Ngãi, đại biểu Quốc hội khóa VIII, nay đã bước qua tuổi 82 kể: Đầu năm 1987, lúc này tôi là Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Nghĩa Bình, Bí thư Thị uỷ Quảng Ngãi được phân công đưa đồng chí Võ Chí Công- Chủ tịch Hội đồng Nhà nước đi thăm HTX kiểu mẫu Nghĩa Kỳ Bắc (Tư Nghĩa) và gặp mặt, thăm hỏi nhân dân địa phương nhân dịp Tết cổ truyền.

Tại đây, đồng chí Nguyễn Xuân - nguyên trước là cán bộ cơ yếu Khu ủy V (khi đó đồng chí Võ Chí Công là Bí thư Khu ủy V) có nói: “Thưa anh Năm, thưa đồng chí Chủ tịch, hôm nay là ngày 23 tháng Chạp, ngày đưa ông táo về trời, em là Bí thư Chi bộ của Nghĩa Kỳ Bắc, là ông Táo của địa phương, xin thỉnh cầu một điều rất tha thiết. Đó là, mong Chủ tịch nước cho chia tỉnh Nghĩa Bình để tỉnh Quảng Ngãi trở về với Quảng Ngãi”. Đồng chí Võ Chí Công cười hà hà rồi hỏi lại: “Anh Xuân nói vậy nhưng mọi người có ai muốn vậy không?”. Nghe vậy, cả hội trường đồng loạt vỗ tay hô “đồng ý”, “đồng ý”. Đồng chí Võ Chí Công nói: “Đây là ý nguyện của dân và tôi là Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, nhưng nguyên tắc quyết định là ở tập thể, trước hết là ở Bộ Chính trị nên tôi về sẽ báo cáo lại nguyện vọng đó. Cá nhân tôi rất đồng tình với nguyện vọng của nhân dân, nhưng đây là quyết định rất khó khăn?

"Tuy nhiên, các đồng chí trong Ban Thường vụ sớm biết việc tách tỉnh nên phân công tôi về Quảng Ngãi để ổn định tình hình, chuẩn bị dần điều kiện để chia tỉnh, nhất là cơ sở hạ tầng, rồi tổ chức các đợt phát động vận động nhân dân di dời mồ mả trên địa bàn thị xã để mở hai con đường phía Nam, phía Bắc thị xã, làm kênh mương thủy lợi để phục vụ sản xuất, nhà ở cho cán bộ..., kể cả việc đi xin cán bộ ở các trường và xin Trung ương để bổ sung cán bộ cho một số cơ quan, đơn vị", ông Vũ nhớ lại.

Tháng 3.1989, Bộ Chính trị chính thức đồng ý cho tách tỉnh theo địa giới hành chính cũ sau 14 năm sáp nhập. Xen lẫn với niềm vui là bao nỗi lo toan phía trước, nhất là với những người tiếp quản chính quyền. Đồng chí Đỗ Quang Thắng - Ủy viên TƯ Đảng, Bí thư Tỉnh ủy trong bài phát biểu tại buổi phát thanh đầu tiên trên sóng Đài Phát thanh Quảng Ngãi ngày 8.7.1989 đã kêu gọi: “Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh vượt qua khó khăn trước mắt để xây dựng lại từ đầu, phải tạo được sự nỗ lực của toàn Đảng bộ, sự đoàn kết nhất trí cao. Đồng chí nêu một số nhiệm vụ trong những năm trước mắt và động viên nhân dân trong tỉnh chung sức, chung lòng, đưa tỉnh Quảng Ngãi giàu truyền thống cách mạng ngang tầm với các địa phương trong khu vực…”.

Đồng chí Trần Cao Minh - nguyên Chủ tịch UBND tỉnh (từ tháng 7.1989- 6.1992) nhớ lại: Khi tách tỉnh, Quảng Ngãi gặp nhiều khó khăn hơn. Trước hết là cơ sở vật chất kỹ thuật, bởi vì ngày nhập tỉnh thì trung tâm tỉnh lỵ đóng ở Quy Nhơn, nên tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng tại đây, kinh phí hằng năm đầu tư xây dựng cho thị xã Quảng Ngãi chỉ khoảng 25%. Khi tách ra khó đủ bề, trước hết là cơ quan trụ sở làm việc. Thứ hai, ngân sách tài chính thời kỳ tách tỉnh cũng là thời điểm đất nước bắt đầu đổi mới, kinh tế đất nước khó khăn. Trung ương không có nhiều ngân sách để hỗ trợ nên phải chia cái bàn, cái ghế về dùng. Tách tỉnh mang về hơn 70 triệu đồng tiền mặt chỉ đủ lo lương và đời sống cho cán bộ. Trừ một số cán bộ có nhà ở của bà con, còn lại hầu hết đều ở tại cơ quan, bàn làm việc cũng là chỗ để ngủ. Thứ ba là, số cán bộ về chiếm khoảng 24% cán bộ toàn tỉnh Nghĩa Bình nên rất thiếu.

Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng khi về quê ăn Tết Mậu Thìn (1990), cái Tết đầu tiên của Quảng Ngãi khi vừa tái lập đã nói với cán bộ lãnh đạo của tỉnh: “Phải động viên cán bộ và nhân dân cố gắng vượt qua khó khăn, chúng ta sẽ làm lại từ đầu, với truyền thống cách mạng kiên cường của Đảng bộ và người dân Quảng Ngãi sắp đến chúng ta sẽ làm được những việc lớn hơn, phong trào địa phương chắc chắn sẽ phát triển mạnh mẽ hơn, chúng ta đã có thế, lại có lực nên tin tưởng điều đó…”.

Do đó, việc đầu tiên mà chúng tôi xác định là phải an dân, đảm bảo sản xuất không được đình đốn, trước hết là mảng nông nghiệp, rồi lo chỗ ăn, chỗ ở, chỗ làm việc cho cán bộ từ Nghĩa Bình về. Thứ hai, tập trung giải quyết các vụ việc mà dân chưa thông. Thứ ba, tập trung làm cho được công trình thủy lợi Thạch Nham - công trình trọng điểm Nhà nước và đã hoàn thành đúng tiến độ. Dòng nước mát Thạch Nham đổ về làm cho ruộng đồng xanh tươi, lúa trĩu hạt. Nhiều công trình hạ tầng sau đó cũng được mọc lên, như Quốc lộ 24B thông lên Kon Tum, Cảng Sa Kỳ... và sau đó Cảng Dung Quất, Nhà máy Lọc dầu... "Nếu như chưa tách tỉnh thì không thể xây dựng Quảng Ngãi được như hôm nay", đồng chí Trần Cao Minh nói.

Là một trong số ít cán bộ khoa học kỹ thuật của tỉnh được đào tạo ở Nga và đã có nhiều đóng góp cho ngành khoa học nước nhà, đồng chí Phạm Hữu Tôn - Nguyên Phó Chủ tịch UBND tỉnh (từ năm 1989-2000) là người có mặt ngay từ những ngày đầu tiên hình thành ý tưởng xây dựng Cảng nước sâu Dung Quất, tác giả của nhiều cuốn sách, như “Dung Quất quá trình hình thành và phát triển”, “Vai trò của tỉnh Quảng Ngãi trong sự nghiệp Dung Quất”, “Sự cống hiến của anh Sáu Dân đối với Dung Quất”.

Đồng chí Phạm Hữu Tôn kể: “Khi anh Trần Kim Môn- Trưởng Ban Khoa học nói với tôi có mấy anh cán bộ khoa học ở trong Sài Gòn ra và có tài liệu nói về vũng Quýt (Dung Quất) có thể làm cảng nước sâu và đề nghị tỉnh cho khảo sát. Tôi cho cán bộ dẫn đi ngay và sau khi đi về họ nói có thể làm cảng biển nước sâu, tôi cho làm ngay dự án. Sau đó nhờ anh Hoàng Thái Sơn – Giám đốc Sở Công nghiệp tỉnh quen biết với phu nhân của đồng chí Võ Văn Kiệt và gửi hồ sơ dự án nhờ Thủ tướng xem giúp. “Xem xong anh Sáu Dân (đồng chí Võ Văn Kiệt) thích lắm và vào kiểm tra ngay. Đích thân tôi đưa anh đi thị sát. Xem xong, anh Sáu Dân trầm trồ: “Ở đây đẹp quá, không khác gì nàng tiên đang ngủ”. Quay sang tôi, anh nói: Dung Quất đã giải quyết cái khó cho Trung ương rồi. Còn với tôi lúc bấy giờ, trong suy nghĩ đã hình dung: Rồi đây Dung Quất sẽ là động lực để Quảng Ngãi và miền Trung cất cánh. Dung Quất, luôn là dấu ấn mà tôi không thể nào quên được”, nguyên Phó Chủ tịch UBND tỉnh nhớ lại.  

Và Dung Quất, Nhà máy Lọc dầu hôm nay đã và đang là niềm kiêu hãnh của người dân Quảng Ngãi sau 25 năm tái lập tỉnh.

Thanh Thuận - Tùng Vi
 

,
,
,