,
Cập nhật lúc 16:11, Friday, 24/07/2009

Đảm bảo cung cấp các dịch vụ viễn thông có chất lượng tốt

LTS: Giữ ổn định và phát triển, hiện đại hoá mạng lưới thông tin luôn là một yêu cầu cấp thiết trong mọi giai đoạn của đất nước. Xác định được vai trò quan trọng đó, Viễn thông Quảng Ngãi (VNPT) đã không ngừng đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, hiện đại hoá các trang thiết bị và thường xuyên đổi mới phương thức phục vụ, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội tỉnh nhà sau 20 năm tái lập tỉnh.

*PV: Nhìn lại 20 năm qua kể từ ngày tách tỉnh, ông có đánh giá thế nào về sự phát triển của VNPT Quảng Ngãi?

*Ông Trần Quang Vinh: Sau giải phóng, cơ sở hạ tầng dành cho viễn thông chỉ có 1 tổng đài cơ khí với dung lượng 100 số đã lạc hậu. Sau khi tái lập tỉnh (1989), dù còn nhiều khó khăn nhưng Bưu điện tỉnh cũng đầu tư thay tổng đài trên bằng hệ đài tự động 1000 số và hệ cáp quang nội hạt. Sau đó các huyện, thị đều có tổng đài tự động với dung lượng 1850 số. Năm 1993, tổng đài STAREX-IMS 2000 được đưa vào sử dụng với hệ thống viba Bắc- Nam và đường cáp quang rẽ mạch. Cũng từ đó, tại Quảng Ngãi mọi liên lạc trong nước và quốc tế đều được tự động hoá, kể cả huyện đảo Lý Sơn. Cuối năm 1995, trên toàn mạng có 8.000 máy điện thoại, tăng 24 lần so với lúc tách tỉnh. Đến tháng 10/2001, 100% xã trong toàn tỉnh có máy điện thoại. Tổng đài NEAX-61 dung lượng 11.100 số và hệ thống AWA kỹ thuật số cũng được đưa vào sử dụng.

Cuối năm 2005, Quảng Ngãi hình thành được một mạng viễn thông hiện đại, bao gồm các hệ thống chuyển mạch, hệ thống truyền dẫn và mạng ngoại vi rộng khắp đến 100% xã, phường, thị trấn trong tỉnh. Toàn tỉnh có 144 ngàn máy điện thoại, đạt mật độ 11 máy/100 dân. Đội ngũ cán bộ kỹ thuật của đơn vị từng bước làm chủ được các công nghệ mới. Nhờ đó, chất lượng các loại dịch vụ Internet tốc độ cao, di động… ngày càng được nâng cao, đáp ứng nhu cầu sử dụng, khai thác thông tin phục vụ đầu tư, sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh, đặc biệt là 2 KCN Tịnh Phong, Quảng Phú và KKT Dung Quất… Đây cũng là giai đoạn VNPT Quảng Ngãi tăng tốc phát triển, đa dạng hoá các loại hình dịch vụ, góp phần nhất định trong việc thúc đẩy kinh tế - xã hội tỉnh nhà phát triển sau 20 năm tái lập tỉnh.

*PV: Hiện nay, sức ép cạnh tranh giữa các doanh nghiệp khai thác dịch vụ Viễn thông- Công nghệ thông tin diễn ra khá quyết liệt. Vậy VNPT  Quảng Ngãi có những biện pháp nào để duy trì được tốc độ phát triển, thưa ông?

*Ông Trần Quang Vinh: Dịch vụ điện thoại cố định được VNPTQN xác định là nền tảng để phát triển các dịch vụ gia tăng, như mạng di động, Internet băng rộng ADSL, Gphone... Tập trung đầu tư vào các KCN, đáp ứng đầy đủ nhu cầu của các nhà đầu tư. Đầu tư xây dựng hạ tầng phục vụ phát triển thuê bao cố định ở những khu vực có hiệu quả cao và tận dụng năng lực mạng di động phát triển thuê bao Gphone ở các khu vực khác. Tăng cường công tác chăm sóc khách hàng, nâng cao chất lượng phục vụ; tích cực mở rộng thị trường. VNPTQN tổ chức ký kết biên bản thỏa thuận với các doanh nghiệp, UBND các huyện, thành phố. Miễn 100% phí lắp đặt hòa mạng ban đầu đối với dịch vụ điện thoại cố định, Gphone, Internet băng rộng Mega VNN, Megawan, di động trả sau..., kết hợp với các chính sách chăm sóc khách hàng, tư vấn, hỗ trợ dịch vụ. Tài trợ cho ngành giáo dục mỗi huyện 2 bộ máy vi tính và 25 suất học bổng trị giá 5 triệu đồng.

*PV: Với những bước đi đó, xin ông cho biết kết quả hoạt động của VNPT Quảng Ngãi 6 tháng đầu năm 2009 và định hướng của đơn vị trong thời gian đến.

* Ông Trần Quang Vinh:  6 tháng đầu năm 2009, đơn vị đạt doanh thu 110 tỷ đồng, đạt 45% KH. Xây dựng 17 trạm BTS, lắp đặt thiết bị phát sóng 61 trạm, đưa tổng số trạm BTS lên 193 trạm (có 177 trạm đã phát sóng). Hoàn thành việc dựng 2.000 cột bê tông và kéo mới 24 tuyến cáp quang từ 8- 12FO, tổng chiều dài gần 110 km cho 24 trạm BTS. Khảo sát xây dựng 100 trạm Node B và xây dựng phương án truyền dẫn cho Mạng 3G sẵn sàng triển khai theo kế hoạch của Tập đoàn vào cuối tháng 9/2009. Hoàn thành việc kéo cáp quang đến các sở, ngành và UBND huyện theo yêu cầu triển khai Đề án 112. Kéo cáp quang 43 điểm thuộc địa bàn thành phố, Bình Sơn, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa phục vụ kết nối mạng của Tỉnh ủy. Đầu tư xây dựng Mạng FTTx và tiếp nhận lắp đặt Mạng Man E. Đối với miền núi, đến nay có 50 xã có trạm chuyển mạnh, trạm truy cập ADSL, trong đó 100% xã ở huyện Sơn Hà và Minh Long đều có.

Phấn đấu doanh thu 6 tháng cuối năm tăng bình quân 15%/tháng và hoàn thành vượt mức chỉ tiêu doanh thu 240 tỷ đồng năm 2009. Đẩy mạnh phát triển thuê bao di động trả sau, ADSL, điện thoại cố định, Gphone. Phấn đấu phát triển bình quân 5.000 thuê bao/tháng. Chuẩn bị tốt hạ tầng để sẵn sàng cung cấp các dịch vụ băng rộng, dịch vụ tốc độ cao cho các cơ quan, doanh nghiệp, các trung tâm thương mại, KCN, KKT Dung Quất. Tích cực phát triển mạng lưới cộng tác viên, mở rộng vùng phủ sóng điện thọai di động Vinaphone, nâng cao chất lượng cuộc gọi, đảm bảo cung cấp các dịch vụ có chất lượng tốt nhất.

Đến năm 2010, nâng trạm chuyển mạch của VNPT Quảng Ngãi lên 85 trạm, gồm 3 Host, 82 vệ tinh và trạm truy nhập, với bán kính bình quân 3,5 km/trạm. Mạng xDSL Internet tốc độ cao có 70 DSLAM với dung lượng 7.500 port ADSL. Thuê bao Internet Mega-VNN (ADSL) có khoảng 6.000 thuê bao và 500 thuê bao SHDSL. Hệ thống truyền dẫn viba có 81 đầu thiết bị từ 2E1 đến 16E1. Hệ thống truyền dẫn SDH có 1 vòng ring 2.5Gbps kết nối 3 trạm Host, 12 vòng ring 622 và 155 Mbps kết nối với các trạm vệ tinh, truy nhập. Phấn đấu đến năm 2010 đạt mật độ 30 máy/100 dân theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII.
*PV: Xin cảm ơn ông!
Phú Đức (Thực hiện)

http://baoquangngai.com.vn/channel/2048/2009/07/1713517/
,
Ý KIẾN BẠN ĐỌC
,
,
,