Vũ Hải Đoàn- Bình dị và ngây thơ

08:29, 20/05/2021 [GMT+7]
.
(Báo Quảng Ngãi)- "Trước gương mới biết bạc đầu/ Thời gian tựa bóng chim câu qua thềm" (Xuân thời gian). Khi đặt bút viết về Vũ Hải Đoàn, tôi cứ bị hai câu thơ này ám ảnh. Qua đạn lửa chiến tranh rồi, vượt qua bao cuộc bể dâu nhân thế rồi, một ngày xuân hòa bình, ngồi ngắm mình trước gương mới biết tuổi xuân đã qua, mái đầu đã bạc và nhận ra thời gian trôi đi nhanh quá... Để rồi ông rời cõi tạm khi bước sang tuổi 92 vào tết Tân Sửu vừa qua.
Những vần thơ bình dị đất quê
 
Sinh năm 1930 tại thôn Nga Mân, xã Phổ Cường (TX.Đức Phổ), chàng thiếu niên Võ Phụng Thê đã sớm dấn thân vào cuộc kháng chiến và sớm trở thành một cây bút đấu tranh tuyên truyền trên mặt trận báo chí. Làm thơ từ kháng chiến chống Pháp, đến nay, Vũ Hải Đoàn đã xuất bản gần 10 tập thơ.
 
Là một nhà báo lão luyện, thơ Vũ Hải Đoàn mang đầy tính thời sự, nặng về tự sự một cách thật thà, chân chất, rất phù hợp với thơ ca kháng chiến. Điều này ai cũng dễ nhận ra. Vì thế, đến với thơ Vũ Hải Đoàn trong không khí của thơ ca đương đại, tôi đã cố gắng đi tìm bên trong các chi tiết tự sự ngồn ngộn ấy những điểm nhấn thơ được bung ra tự sâu thẳm tâm hồn người cầm bút. Và cũng không khó để thấy rằng, thơ anh chân chất đến dễ thương: "Xin thưa toàn thể đồng bào/ Hễ nghe báo động, chỗ nào ngồi yên" (Chuyện ông Mười Bún - 1952). Rõ ràng là tuyên truyền đó, lời ăn tiếng nói của quần chúng đó, là cái câu chuyện của ông Mười Bún đang “loa loa” đó, mà đọc lên cứ thấy thích, thấy vui, thấy lòng thanh thản nhẹ nhàng cho dù đang trong thời gian “báo động”.
 
Những tháng năm đất nước cắt chia, sống trong tâm trạng “ngày Bắc, đêm Nam”, nỗi thương nhớ quê hương, vợ con là nỗi nhớ thương đau đáu. Nỗi nhớ từ hiện thực, dần dà lắng vào tiềm thức, ẩn vào vô thức để thơ cất lên tiếng nhớ từ trong giấc mơ của chính lòng mình. Mơ mà thật. Thật như tiếng nói của đất đai quê kiểng gọi mùa, thật như chính nỗi đau thương miền Nam đang gánh chịu, “thật như mơ” vì em đang ở bên ta: "Mỗi đêm thao thức đầu thêm bạc/ Thương nhớ quê hương lắm chóng già/ Ngày lo công tác - đêm thương nhớ/ Mộng thấy quê nhà - em bên ta" (Thao thức - 1959). Đọc bài tứ tuyệt này gợi lên trong ta không khí của Đường thi, nhưng không chỉ có thế, nó thấm đẫm cả nỗi đau Nguyễn Trãi: "Tóc bạc thờ ơ tình tuế nguyệt/ Lòng son thắc mắc nghĩa quân thần" (Đêm thuyền tới cửa bể cảm hứng), nỗi buồn Nguyễn Du: "Bụi hồng nhuốm mái đầu phơ bạc/ Chiều tối lên cao buồn lắt lay" (Tô Sơn đạo trung), nỗi lòng Cao Bá Quát: "Đêm qua bỗng thấy chiêm bao/ Gặp con, giọt lệ tuôn dào như mưa" (Chiêm bao thấy con gái đã mất), nhưng hiện đại hơn bởi hai câu thơ cuối: "Ngày lo công tác - đêm thương nhớ/ Mộng thấy quê nhà - em bên ta".
 
Khi trở về Nam hòa mình vào không khí những ngày đánh Mỹ, thơ Vũ Hải Đoàn lại trở về đúng chất giọng của một người chiến sĩ cầm bút. Vẫn cái tự sự hồn nhiên, chơn chất đó, vẫn cái giọng đối đáp nông dân “đập cục” đó, vẫn là không khí chiến tranh ngột thở nơi vùng ranh đó, mà sao cứ thấy bà-cụ-thơ hiện lên như một bà Tiên trước mắt những người con đang chiến đấu: "Cánh cửa hầm mở trong đêm tối/ Bà cụ bước ra nhìn chúng tôi cười/ “Bay vào đây ăn khuya kẻo đói/ Có tôm đồng kho với cá tươi”/ Anh du kích: “Con cần đi gấp/ Dẫn anh này qua công tác xã bên”/ “Mày cần đi tao đâu có ép/ Đem cá về cho mấy anh em” (Đêm qua vùng ranh - 1971). Thơ là đời, đời là thơ chính là sự diệu kỳ khó lòng ai giải thích. Chỉ có nhà thơ mới cảm nhận được và lột tả hết cái phút giây kỳ diệu này thôi.
 
Và tơ non như cỏ đồng làng
 
Hòa bình, thống nhất, Vũ Hải Đoàn trở về với cuộc đoàn viên. Trên vùng đất của hồn thơ chơn chất bắt đầu mọc lên những đóa thơ tơ non như cỏ cho dù những tháng ngày này, ông đã bước qua cái tuổi thanh xuân. Đọc Vũ Hải Đoàn, ta nhận thơ ông ngập tràn mùa xuân và sắc xanh của cỏ cây hoa lá: "Trời xanh quá, gió cũng chừng xanh quá/ Phấn ong thơm hoa trái tỏa hương vườn/ Như từng bước cũng làm xao động lá/ Cùng dập dồn náo nức sức chồi vươn" (Ơi mùa Xuân - 2011). Bài thơ này ông làm lúc đã bước sang tuổi 81, vậy mà ngập cả sắc xanh: trời xanh, gió xanh; phấn hương tỏa khắp vườn lòng; rộn ràng lá múa, náo nức chồi non. 
 
Người đời nói: nhà thơ thì trẻ mãi không già chính vì lẽ đó! Càng về già, sức xanh của thể thơ tứ tuyệt “già nua” được ông truyền vào một hơi thở mới, tươi tắn đến sinh động: "Đồng thở nhẹ, gió vuốt lay lá mới/ Con bê vàng nô rỡn thảm cỏ xanh/ Tiếng chim thả mặt trời hồng đáy nước/ Xuân say hương, trái chín ngủ trên cành" (Xuân đồng quê).
 
Thoát ra khỏi từ trường thơ tự sự, Vũ Hải Đoàn đã có những câu thơ tình yêu đắm say, bay bổng. Nó nối kết với cái bay bổng của hồn vía ca dao, điểm sáng lên một hồn thơ vừa là gã si tình “lang thang” vừa là chàng trai ngu ngơ, tinh nghịch: "Bao giờ hoa em mở nụ/ Để anh gửi cánh bướm sang/ Nếu không hương hoa ấp ủ/ Bướm này hóa kẻ lang thang" (Hoa trinh nữ). Tình yêu ấy về già thì trọn một thủy chung - cái thủy chung của một tình yêu chân thật: "Cây đời ngả bóng vào thơ/ Còn em ngả bóng vào bờ vai anh" (Cây đời ngả bóng - 2010).
 
Hồn thơ tơ non ấy còn được Vũ Hải Đoàn thể hiện rõ qua mảng thơ dành cho thiếu nhi. Có lẽ đây là mảng thơ phù hợp nhất với tính chất “già mà duyên”, “nghiêm trang mà tinh nghịch” cộng với tài quan sát, phát hiện chi tiết của một nhà báo lão thành của ông: "Bé Thương đi mẫu giáo/ Chim sáo mừng hót vang/ Tính tình tang, tính tình tang/ Chó vàng theo quấn quýt/ Mũi khịt - khịt - khịt/ Con mèo đòi đi theo/ Kêu meo - meo – meo/ Gà con không đi được/ Kêu tiếc - tiếc - tiếc" (Bé đi mẫu giáo). 
 
Bài thơ ngập tràn âm thanh qua giọng đọc của trẻ mẫu giáo mà chở cả một hiện thực hấp dẫn tuổi thơ, mang đầy tính giáo dục. Mà đâu chỉ có chuyện động vật dưới đất, cả đến chuyện trăng trên trời, chuyện cổ tích xưa cũng được Vũ Hải Đoàn hiện thực hóa một cách sáng tạo, uẩn súc bài học giáo dục cao: "Ai đưa chú Cuội, cây đa/ Lên trăng ngồi mát nhớ nhà hay không?/ Mẹ rằng: Bởi Cuội chơi rông/ Để trâu ăn lúa Trăng không cho về!" (Nhìn trăng bé hỏi). Chính cái hồn thơ chân chất mà tơ non đã đem đến một Vũ Hải Đoàn vừa có cái chín chắn, triết luận của một nhà báo lão thành, vừa có cái tinh nghịch, hóm hỉnh của con mắt và tâm hồn trẻ thơ.
 
Có thể nói, với những bài thơ dài mang tính sự kiện, hiện thực lớn trong cuộc đời, Vũ Hải Đoàn còn nặng về tự sự có tính chất cổ vũ tuyên truyền. Riêng thơ tứ tuyệt nhiều bài đạt đến độ hàm súc cao và có sức lan tỏa. Tôi thật sự ấn tượng với những bài thơ thiếu nhi tinh nghịch, dễ thương. Đúng là, con người và thơ Vũ Hải Đoàn vừa chân chất như đất quê, vừa tơ non như cỏ xuân khoe sắc.
 
MAI BÁ ẤN
 
.
.