Cập nhật lúc: 15:44, 04/09/2013 [GMT+7]
.

Ngời sáng một niềm tin


(Báo Quảng Ngãi)- Tên thật là Đinh Nhía, nhưng khi theo cách mạng, ông tự nguyện mang họ của Bác Phạm Văn Đồng, lấy tên dòng suối Lệ Trinh ở quê hương đặt tên cho mình thành Phạm Đức Trinh. Trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ông từng giữ chức Chủ tịch UBND huyện Ba Tơ và ba lần vinh dự được gặp Bác Hồ kính yêu.  

Tháng Tám mùa thu, lá rừng rơi xào xạc. Thác Lệ Trinh (xã Ba Chùa) tuôn dòng nước trắng xóa, đổ ầm ào. Thứ âm thanh nơi thâm sơn này đã gợi cho già Trinh nhớ về mùa thu xưa. Mùa thu cả dân tộc vùng lên giành chính quyền…

Già Trinh kể về ngày tháng hoạt động cách mạng.
Già Trinh kể về ngày tháng hoạt động cách mạng.

Giác ngộ cách mạng

Hướng đôi mắt nhìn về xa xăm già Trinh chậm rãi kể: Cha mất sớm nên tuổi thơ chỉ được mẹ chăm nom. Mẹ thường địu mình trên lưng khi đi làm đồng, lên núi Gò Pót kiếm củi, trưa về men theo dòng suối Lệ Trinh bắt ốc, đơm cá. Dòng suối cho cá, tôm, cho dòng nước mát chảy mãi tưới cánh đồng Chùa bao mùa lúa lên xanh, trĩu hạt.  

Đời nghèo khó nhưng nhiều lần tiếp xúc với người Kinh, mẹ của ông Trinh hiểu được giá trị của con chữ nên ráng cho con mình đến trường học chữ. Những năm tháng ấy trên vùng cao Ba Tơ thi thoảng có cán bộ cách mạng từ dưới xuôi lên cải trang thành dân buôn bán, tuyên truyền về cách mạng, nói về Bác Hồ, về việc đánh đổ thực, dân phong kiến để đồng bào dân tộc Hrê không còn phải đóng nhiều thuế. Nhà nhà sẽ có ruộng để cày bừa gieo hạt. Đồng bào trong vùng sẽ thừa muối ăn... Nghe chuyện, Đinh Nhía phấn khởi lắm. Chính vì vậy, khi khởi nghĩa Ba Tơ bùng nổ, ông Trinh cùng đồng bào từ các ngả đường trong các thôn, làng cầm giáo mác kéo về huyện lỵ, bao vây đồn Ba Tơ, giành chính quyền.

Đội du kích Ba Tơ được thành lập, tổ chức tuyên thệ rồi tiến về vùng núi Cao Muôn xây dựng căn cứ. Đêm đêm lực lượng du kích từ núi Cao Muôn men theo lối mòn của dòng suối xuống làng lập bãi tập bên dòng suối Lệ Trinh, dạy chữ cho dân. Lực lượng du kích Ba Tơ ngày càng lớn mạnh, góp phần vào cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 thắng lợi.

Ba lần gặp Bác

Năm 1954, Đinh Nhía được tổ chức bố trí đi tập kết. Ra miền Bắc, sau khi được học tập về lý luận chính trị, ông được điều lên Bắc Kạn phụ trách 30 đảng viên đồng bào Tây Bắc giúp dân phát triển kinh tế. Nơi đây, ông nhanh chóng hòa mình với quần chúng, cùng ăn, cùng ở, cùng làm với dân.

Tháng 5.1959,  nhân dịp dự mít tinh kỷ niệm 5 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, Bác Hồ lên thăm đồng bào Tây Bắc, ông vinh dự được chọn vào nhóm đại diện cho đồng bào các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc mang cờ hoa đi đón Bác. "Đúng giờ Bác đến nhưng không lên trên hội trường mà vòng ra nhà bếp xem chỗ ăn, ở của các chiến sĩ, hỏi han chuyện gần dân, giúp dân của cán bộ... Lần đầu tiên gặp Bác, hiểu tấm lòng và sự giản dị của Bác nên không ai nói thành lời. Làm theo lời Bác, mình và tất cả anh em đều cố gắng học tập, gần gũi với quần chúng và được quần chúng tin yêu" - ông Trinh nhớ lại.  

Ở Bắc Kạn vài năm, ông Trinh được chuyển về học tập tại Trường Dân tộc Gia Lâm (Hà Nội). Sau đó, ông Trinh lại một lần nữa được gặp khi Bác đến thăm con em các dân tộc học tập tại trường. "Vẫn là lời hỏi thăm ân cần về sức khỏe, sinh hoạt ăn uống của anh em. Vẫn là lời chia sẻ động viên của Bác: "Các cháu là con em đồng bào miền Nam, xa rừng núi, xa quê hương, có nhớ quê không? Nhớ thì phải cố gắng học tập để sau này trở về xây dựng quê hương!" - ông Trinh xúc động nhớ lần thứ hai được gặp Bác Hồ.

Năm 1963, trước khi trở về miền Nam, ông Trinh lại một lần nữa được  thấy Bác trong dịp dự họp Quốc hội. Lúc này có các anh em tập kết miền Nam dự họp. Bác khá bận rộn nhưng vẫn dành thời gian thăm hỏi anh em cán bộ từ miền Nam ra và những người sắp trở về Nam chiến đấu. Bác động viên rồi dặn dò: Quê hương còn kẻ thù xâm lược, chúng ta phải làm tất cả vì miền Nam thân yêu. Lời dặn dò đó của Bác đã theo ông Trinh suốt chặng đường  đi làm cách mạng.

Kiên trung với con đường cách mạng

 Tập kết ra Bắc ông Trinh vẫn giữ vẹn tròn tình yêu đối với người vợ hiền ở chốn quê nhà. Những ngày học tập ở miền Bắc, được sự cho phép của tổ chức, ông đổi tên từ Đinh Nhía thành Phạm Đức Trinh. Ông giải thích: "Lấy họ Phạm bởi theo họ Bác Đồng. Lót chữ Đức bởi mình chưa sai phạm trong tình yêu quê hương, đất nước và cả chuyện riêng tư. Còn chữ Trinh là nhớ quê lắm! Quê có con suối Lệ Trinh, nơi đó có người mẹ hiền và người vợ trẻ đang chờ...". Thế là cái tên Phạm Đức Trinh gắn với ông kể từ ngày đó,  như nhắc nhở ông kiên trung một con đường đi theo cách mạng, khắc sâu tấm lòng vì quê hương và giữ vẹn toàn tình cảm đối với người thân.  

Sau những năm dài ở miền Bắc, ông Trinh trở về Nam và trực tiếp xin về chiến đấu ngay trên quê hương Ba Tơ. Năm 1967 - 1968, ông Trinh giữ chức vụ Chủ tịch UBND huyện Ba Tơ. Những năm đó, ông luôn có mặt ở những điểm nóng chỉ đạo các xã kiên cường bám đất, bám làng; chỉ đạo lực lượng du kích phối hợp với bộ đội chủ lực của huyện, tỉnh bẻ gãy nhiều đợt tấn công của địch vào vùng căn cứ. Năm 1972, khi Tỉnh ủy Quảng Ngãi quyết định tiêu diệt căn cứ Đá Bàn, giải phóng huyện lỵ Ba Tơ, ông đã sát cánh cùng các lực lượng tham gia giải phóng huyện lỵ. Đầu năm 1973, ông Trinh cùng các thành viên Ban Thường vụ Huyện ủy Ba Tơ bám sát địa bàn vận động dân mở đường từ dốc Cọp (Ba Điền) đến Bến Buôn để tiếp nhận lương thực từ miền xuôi lên và tạo điều kiện đưa xe tăng từ miền Bắc theo những nhánh rẽ của đường Trường Sơn vào chiến trường Quảng Ngãi.

Sau ngày giải phóng, ông Trinh làm Chủ tịch UBND huyện rồi làm Phó Bí thư Huyện ủy. Ông chỉ đạo các địa phương vận động đồng bào xây dựng các công trình thủy lợi, mở các lớp xóa mù chữ để dân biết đọc, biết viết. Bây giờ tuổi già, trở về sống ở quê, ông lại tích cực vận động bà con hăng hái lao động sản xuất, góp phần xây dựng nông thôn mới.


Vẹn tròn một tình yêu với quê hương, đất nước, sống trọn đạo nghĩa vợ chồng, khi về nghỉ hưu, có người bảo nên xây nhà ở trung tâm huyện lỵ, nhưng ông một mực chối từ mà trở về quê nhà bên dòng suối Lệ Trinh, nơi đã cho ông nhiều kỷ niệm một thời.  
    

Bài, ảnh: MAI HẠ  

 

.