(Baoquangngai.)- Ngày 01/11/2012, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 20 về “Phát triển khoa học và công nghệ (KH&CN) phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” (Nghị quyết số 20). Thực hiện Nghị quyết này, tỉnh Quảng Ngãi đã triển khai thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể; qua đó góp phần quan trọng vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
 
Phóng viên Báo Quảng Ngãi đã có cuộc trao đổi với Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Trưởng đoàn ĐBQH tỉnh Đặng Ngọc Huy về những thành tựu đạt được sau 10 năm Nghị quyết này triển khai và đi vào cuộc sống.
 
Chú thích...
Trao giải thưởng Sáng tạo khoa học kỹ thuật cho các cá nhân tại Nhà máy Lọc dầu Dung Quất.
PV: Thưa đồng chí, cùng với cả nước, trong 10 năm qua, Đảng bộ, chính quyền, quân và dân Quảng Ngãi đã tích cực triển khai nhiều hoạt động để thực hiện Nghị quyết số 20 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI. Từ khi triển khai thực hiện Nghị quyết số 20 đến nay, Quảng Ngãi đã đạt được những thành tựu gì, thưa đồng chí?
 
Đồng chí ĐẶNG NGỌC HUY: Thực hiện Nghị quyết số 20 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, các cấp ủy đảng, chính quyền và hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức học tập, quán triệt, tuyên truyền, phổ biến sâu rộng Nghị quyết số 20 đến cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động và các tầng lớp nhân dân bằng nhiều hình thức phù hợp với từng đối tượng. Tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết số 20 bằng những chương trình hành động, kế hoạch cụ thể phù hợp ở từng cấp, từng ngành, từng cơ quan, đơn vị, địa phương. Nhờ đó, đã nâng cao nhận thức của các cấp ủy, chính quyền, cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trên địa bàn về vị trí, vai trò của khoa học và công nghệ trong tình hình mới.
 
Với sự quan tâm, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền, các cơ quan, đơn vị, địa phương cùng với sự tham gia tích cực của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trên địa bàn tỉnh, qua 10 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 20, lĩnh vực KH&CN trên địa bàn tỉnh tiếp tục có bước phát triển, đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ, góp phần quan trọng vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển KT - XH của tỉnh. 
 
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 15 đơn vị sự nghiệp và tổ chức KH&CN; trong đó, có 08 tổ chức đăng ký hoạt động KH&CN. Từ năm 2013 đến nay, trên địa bàn tỉnh thành lập 06 doanh nghiệp KH,CN (trong đó có 03 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật và công nghệ, có 03 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khoa học nông nghiệp). Hiện tại, ở tỉnh có 03 tổ chức KH&CN công lập. 
 
Đội ngũ trí thức của tỉnh có sự phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng. Tổng số cán bộ, công chức, viên chức và người lao động có trình độ cao đẳng trở lên trên 40.000 người. Số cán bộ tham gia nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ trên địa bàn tỉnh năm 2020 là 1.502 người (trong đó tiến sỹ 25 người, thạc sỹ 396 người, đại học 858 người; cao đẳng 223 người); đạt 12 cán bộ nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ trên 1 vạn dân. Trong giai đoạn 2012 - 2021, đã có hơn 206 tỷ đồng từ nguồn ngân sách nhà nước và gần 297 tỷ đồng từ nguồn vốn của các tổ chức, cá nhân ngoài ngân sách nhà nước dành cho sự nghiệp KH&CN. 
 
Trong 10 năm qua, Quảng Ngãi đã xây dựng và tổ chức triển khai thực hiện 113 nhiệm vụ KH&CN cấp bộ và cấp tỉnh (trong đó có 09 nhiệm vụ cấp bộ, 104 nhiệm vụ cấp tỉnh) trên nhiều lĩnh vực như: nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới; kỹ thuật công nghệ; quản lý, bảo vệ tài nguyên và môi trường; bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân; khoa học xã hội và nhân văn; hỗ trợ doanh nghiệp và doanh nhân; xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Riêng về thực hiện nhiệm vụ KH&CN cấp cơ sở, trong giai đoạn 2016 – 2020, các sở, ban, ngành, cơ quan cấp tỉnh và Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố đã xây dựng và triển khai thực hiện 155 nhiệm vụ cấp cơ sở.
 
Các hoạt động KH&CN đã góp phần phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng; giảm nghèo bền vững, nhất là ở các huyện miền núi; giải quyết các yêu cầu về tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, sử dụng hợp lý tài nguyên, tiết kiệm nguyên vật liệu, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm, của doanh nghiệp trên thị trường; tạo thuận lợi để doanh nghiệp của tỉnh từng bước tiếp cận, áp dụng những thành tựu của Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư vào sản xuất, kinh doanh; hình thành và phát triển các doanh nghiệp KH&CN gắn với xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo; bảo vệ tài nguyên, môi trường; nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân; phát triển nguồn nhân lực; cung cấp luận cứ khoa học cho việc xây dựng, ban hành các chủ trương, chính sách. 
 
Đặc biệt, trong lĩnh vực phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, từ năm 2013 đến nay, tỉnh đã triển khai thực hiện 70 nhiệm vụ nghiên cứu ứng dụng và phát triển nông nghiệp toàn diện ở 3 lĩnh vực: trồng trọt, chăn nuôi và thủy sản. Kết quả thực hiện các đề tài, dự án, chương trình KH&CN trong nông nghiệp đã góp phần phát triển kinh tế ở vùng nông thôn theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững; tăng năng suất, chất lượng sản phẩm cây trồng, vật nuôi, tăng thu nhập cho nông dân. 
 
Nhìn chung, có thể khẳng định rằng các hoạt động KH&CN trên địa bàn tỉnh trong thời gian qua đã bám sát nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp, các nghị quyết, kết luận chuyên đề các cấp ủy, góp phần thực hiện tốt các mục tiêu, nhiệm vụ về: xây dựng Đảng và hệ thống chính trị; phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội; quản lý, sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường, chủ động ứng phó với thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu; giữ vững quốc phòng, an ninh.
 
PV: Qua thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo và triển khai thực hiện Nghị quyết số 20, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, trong thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của Nghị quyết số 20, chúng ta vẫn còn những tồn tại, hạn chế, vậy theo đồng chí những hạn chế, yếu kém trong những năm qua được xác định là những điểm nào? Nguyên nhân bắt nguồn từ đâu?
 
Đồng chí ĐẶNG NGỌC HUY: Bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 20 trên địa bàn tỉnh trong thời gian qua có một số hạn chế, yếu kém. Quy định của Luật KH&CN về việc Nhà nước bảo đảm chi cho KH&CN từ 2% trở lên trong tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm vẫn chưa được bảo đảm. KH&CN chưa thực sự trở thành động lực chính của sự phát triển KT – XH. Hoạt động KH&CN cấp cơ sở nhìn chung vẫn còn yếu, chưa được quan tâm đúng mức; thiếu cán bộ chuyên trách về KH&CN cấp huyện; một số địa phương, đơn vị chưa tích cực, chủ động nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào sản xuất và đời sống. Thiếu các đề tài, dự án KH&CN có tính đột phá, có hàm lượng KH&CN cao. Số lượng đề xuất, đặt hàng nhiệm vụ KH&CN thuộc lĩnh vực khoa học kỹ thuật công nghệ, xây dựng, cơ sở hạ tầng giao thông và đô thị, tài nguyên và môi trường còn ít. Khả năng nhân rộng, áp dụng vào thực tiễn của một số đề tài sau khi nghiệm thu còn hạn chế. Số lượng đề tài, dự án KH&CN về các mô hình nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp thông minh, ứng dụng công nghệ cao, thích ứng với biến đổi khí hậu còn hạn chế. Hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trên địa bàn tỉnh còn sơ khai, các thành tố chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ, hiệu quả thấp,…
 
Những hạn chế, yếu kém nêu trên có nhiều nguyên nhân. Trong đó có một số nguyên nhân khách quan là: Cơ chế quản lý hoạt động KH&CN chậm đổi mới; hệ thống văn bản cụ thể hóa chủ trương của Đảng về KH&CN, nhất là các văn bản hướng dẫn thực hiện còn tình trạng mâu thuẫn, chồng chéo, thiếu đồng bộ; tiềm lực KH&CN của tỉnh còn yếu, thiếu các chuyên gia giỏi, các nhà khoa học đầu ngành để dẫn dắt hoạt động nghiên cứu, ứng dụng KH&CN; đa số doanh nghiệp trong tỉnh có quy mô nhỏ, trình độ công nghệ và năng lực tài chính hạn chế, chưa thể thực hiện được việc nghiên cứu, phát triển, chuyển giao ứng dụng KH&CN,…
 
Một số nguyên nhân chủ quan là: Một số cấp ủy, chính quyền, người đứng đầu chưa nhận thức đầy đủ vị trí, vai trò của KH&CN đối với sự phát triển KT – XH nên chưa thật sự chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành hoạt động KH, CN tại địa phương, cơ quan, đơn vị, cũng như đầu tư đúng mức đối với lĩnh vực KH&CN; một số ngành, địa phương chưa chủ động lựa chọn, đề xuất được các vấn đề, nhiệm vụ KH&CN cần tập trung giải quyết để thúc đẩy tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển KT – XH; sư gắn kết giữa công tác nghiên cứu, ứng dụng KH&CN với kế hoạch hoạt động của một số cơ quan, đơn vị, địa phương chưa thường xuyên, chặt chẽ;…
 
Những hạn chế, yếu kém và nguyên nhân vừa nêu là những vấn đề đòi hỏi các cấp, các ngành, nhất là người đứng đầu các cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị phải nghiêm túc, thắng thắn nhìn nhận và quyết liệt, năng động, sáng tạo hơn nữa trong lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện Nghị quyết số 20 trong thời gian đến.
 
PV: Phát huy những kết quả đạt được, để KH&CN thật sự trở thành động lực chính của sự phát triển KT - XH của tỉnh, Quảng Ngãi sẽ tiếp tục triển khai các nhiệm vụ, giải pháp như thế nào trong thực hiện nhiệm vụ phát triển KH&CN cũng như nâng cao trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền và các tổ chức, cá nhân trong thực hiện Nghị quyết số 20,  thưa đồng chí?
 
Đồng chí ĐẶNG NGỌC HUY: Trên tinh thần quán triệt quan điểm của Đảng là “cùng với giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ chính là quốc sách hàng đầu”; xác định việc đầu tư phát triển khoa học và công nghệ là bước đột phá trong phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhà, các cấp, các ngành, hệ thống chính trị trong tỉnh, các địa phương, đơn vị cần kế thừa những kết quả đã đạt được, phát huy mạnh mẽ tinh thần đổi mới trong lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành; tập trung thực hiện tốt những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đã đề ra; trong đó, lưu ý một số nội dung sau:
 
Thứ nhất, tăng cường trách nhiệm của hệ thống chính trị, nâng cao nhận thức và sự tham gia của toàn xã hội đối với khoa học, công nghệ; trước hết, lãnh đạo các cấp, các ngành cần phải nhận thức đầy đủ vai trò, ý nghĩa quan trọng của khoa học, công nghệ; phải coi phát triển khoa học và công nghệ là một nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ của địa phương, đơn vị mình; tăng cường trách nhiệm chỉ đạo đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu, hỗ trợ ứng dụng, đưa nhanh các tiến bộ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo vào phục vụ sản xuất, đời sống và thực hiện nhiệm vụ bảo đảm an ninh, quốc phòng.  
 
Thứ hai, kiện toàn và nâng cao năng lực quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ từ tỉnh đến cơ sở; Sở Khoa học và Công nghệ phải thực sự là đầu mối kết nối các ngành, các huyện, các doanh nghiệp, hợp tác xã, nông dân với các viện, trường, các nhà khoa học. Xây dựng, ban hành cơ chế, chính sách thu hút, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, phát triển đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ. Tạo diễn đàn, cơ hội để các nhà khoa học, trí thức được tham gia tư vấn, phản biện những chiến lược, chính sách, các dự án lớn của tỉnh. 
 
Thứ ba, hướng dẫn, hỗ trợ doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh áp dụng các giải pháp về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, hệ thống quản lý tiên tiến để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa và khả năng cạnh tranh; phát triển chuỗi cung ứng hàng hóa trong điều kiện hội nhập kinh tế; bảo vệ và phát triển tài sản trí tuệ trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp.
 
Thứ tư, tổ chức thực hiện có hiệu quả các chương trình, đề tài, dự án hỗ trợ doanh nghiệp để khuyến khích doanh nghiệp, doanh nhân nhập khẩu công nghệ tiên tiến, thay thế, đổi mới thiết bị, công nghệ hiện có, nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả sản xuất kinh doanh.
 
Thứ năm, tập trung triển khai thực hiện có hiệu quả các hoạt động khoa học và công nghệ phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn và giảm nghèo bền vững ở miền núi; trong đó, tập trung hỗ trợ, hướng dẫn doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân ứng dụng kỹ thuật công nghệ số, công nghệ mới vào sản xuất kinh doanh, ưu tiên phát triển nông nghiệp theo hướng nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ; xây dựng, thực hiện các dự án, mô hình nông nghiệp theo chuỗi giá trị; chú trọng tạo lập và phát triển chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận cho các sản phẩm chủ lực, đặc thù mang thương hiệu địa phương.
 
Trong thời gian tới, tình hình kinh tế trong nước và của tỉnh vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức, song tôi tin rằng cùng với tinh thần trách nhiệm cao, năng động, sáng tạo của cấp ủy, chính quyền, Mặt trận, tổ chức chính trị - xã hội các cấp, các tổ chức, cá nhân, việc thực hiện nhiệm vụ phát triển KH&CN trên địa bàn tỉnh sẽ ngày càng hiệu quả hơn, góp phần thực hiện tốt mục tiêu phát triển kinh tế tỉnh Quảng Ngãi nhanh và bền vững.
 
PV: Xin cảm ơn đồng chí
 
Thực hiện: N.Đ
Thiết kế, trình bày: LH