Giao thừa MẬU TUẤT 16-02-2018
  • 00

    Ngày

  • 00

    Giờ

  • 00

    Phút

  • 00

    Giây

abc
.
,
Nhớ mãi trận đánh quyết tử
Cập nhật lúc 08:30, Thứ Ba, 06/02/2018 (GMT+7)

(Báo Quảng Ngãi)- Đã 50 mùa xuân kể từ ngày Tổng tấn công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, nhưng trong ký ức tôi vẫn không thể nào quên trận đánh quyết tử của tàu 43 ngay giữa lòng địch ở vùng biển Đức Phổ anh hùng.

TIN LIÊN QUAN

Vừa trở về căn cứ tại Thủy Nguyên (Hải Phòng), chúng tôi lại khẩn trương nhận con tàu mới chở 37 tấn vũ khí vào bến Đức Phổ chi viện cho chiến trường Quảng Ngãi. Tàu 43 do Trần Anh Tuấn làm Chính trị viên – Bí thư chi bộ; Nguyễn Đắc Thắng làm thuyền trưởng. Chuyến đi vô cùng khó khăn ác liệt, vì bến đã bị lộ nhiều lần, kể từ sau sự kiện Vũng Rô xảy ra tháng 2.1965...

Tàu 43 (Đoàn tàu không số) trên đường mòn Hồ Chí Minh trên biển.                         ẢNH: NVCC
Tàu 43 (Đoàn tàu không số) trên đường mòn Hồ Chí Minh trên biển. ẢNH: NVCC

Chuyến đi này của tàu 43 vào ngay vùng phòng thủ ngăn chặn của địch, hướng bắc gần căn cứ Chu Lai và Đà Nẵng, hướng nam gần căn cứ Sa Huỳnh và cảng Quy Nhơn, hướng tây là Quốc lộ số 1 Mỹ ngụy đóng đồn bót dày đặc, hướng đông là Hạm đội 7 của Mỹ. Địch đã huy động hàng nghìn tàu chiến các loại và máy bay hiện đại lập ra đơn vị đặc nhiệm 115, 116, 117, cùng lực lượng rađa đối hải để phong tỏa, ngăn chặn con đường biển. Song cán bộ thủy thủ tàu 43 vẫn kiên định vững vàng, sẵn sàng lên đường.
 

Với trận đánh lịch sử của tàu vận tải Hải quân Việt Nam ngay giữa lòng địch trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đơn vị tàu 43 đã được Chủ tịch nước Trương Tấn Sang ký Quyết định số: 1590/QĐ-CTN ngày 20.9.2011 phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Theo kế hoạch, tối 27.2.1968, tàu 43 xuất phát. Sau khi vượt qua các tuyến phong tỏa ngăn chặn của địch, đến chiều 29.2, tàu đến điểm chuyển hướng vào bến, đơn vị ăn cơm chiều xong, mọi người vào vị trí. Khi con tàu đang lặng lẽ vào bến, đến 0 giờ 50 phút ngày 1.3.1968 còn cách bờ khoảng trên dưới 20 hải lý, một loạt pháo sáng bắn lên sáng rực cả vùng biển, quan sát phía sau có 4 tàu lớn vây chặn, nhưng chúng tôi vẫn bình tĩnh giữ hướng tiến. Sau 15-20 phút, 4 tàu phía sau bắn pháo cấp tập vào tàu 43. Thuyền trưởng đứng bám trụ trên đài chỉ huy lệnh cho tàu chạy sang trái, rồi sang phải để tránh pháo địch, còn chính trị viên chạy vào phòng cabin lấy bảng mật mã viết bức điện đưa cho báo vụ phát về Sở chỉ huy nội dung: “Gặp địch vây đánh, quyết đánh trả, hủy tàu”.

Từ đây không còn sự chỉ đạo chỉ huy của cấp trên, không có sự chi viện nào của đơn vị bạn. Nhìn xung quanh địch vây kín. Chính trị viên liền lao đến từng vị trí để kiểm tra và động viên chiến đấu, vào phòng hàng hải thuyền phó Đức đang hủy tài liệu, còn Vũ Xuân Ruệ một tay cầm lái, một tay cầm quả thủ pháo giơ cao trước mặt: “Báo cáo chính trị viên tôi đã sẵn sàng tiêu diệt địch”. Khi tất cả đã vào vị trí chiến đấu, ta bình tĩnh đánh lừa địch cho tàu chạy sang trái rồi đảo sang phải, chờ cho tàu địch nằm gọn vào miệng nòng súng của ta mới ra lệnh bắn. Đạn ĐKZ 57 ly của ta diệt ngay chiếc đi đầu, chiếc còn lại tháo chạy ra xa, tàu ta vẫn lao vào hướng bờ. Pháo địch bắn cấp tập lần thứ 2, và đạn xuyên thủng cabin làm cho đồng chí Ruệ bị thương rất nặng, nhưng một tay anh vẫn ghì chặt vòng lái. Tuy nhiên, do vết thương quá nặng, băng cấp cứu chưa xong, thì đồng chí Ruệ đã trút hơi thở cuối cùng.

Giao cho thuyền phó Đức mặc áo ni lông vào cho Ruệ, còn tôi tiếp tục lao xuống vị trí ĐKZ thì đồng chí Võ Nho Tòng là y tá, kiêm pháo thủ số 2 cũng trúng đạn hy sinh,  trong khi 2 tay vẫn ôm chặt quả đạn. Thợ máy Nguyễn Đăng Năm nhìn thấy đã lao đến thay thế ngay. Pháo địch vừa dứt, mạn phải có 2 tàu cao tốc của địch lao vào tấn công, chính trị viên Tuấn liền hô: “Mạn phải mục tiêu 2 tàu địch, bắn tiêu diệt để trả thù cho đồng chí Ruệ và đồng chí Tòng, bắn”. Tiếp theo, địch cho máy bay HU1A đến bắn thẳng vào tàu, đạn trút xuống như mưa, ta lệnh súng 12,7 ly bắn trả chính xác  làm 1 chiếc đâm đầu xuống biển và đã bắn rơi 2 chiếc khác trong các đợt tấn công sau của địch. Để che mắt địch, ta sử dụng khói mù. Hết khói mù thì dùng bom chìm (chỉ có 1 quả thật, còn lại là bộc phá tự tạo thành bom chìm) khi địch đuổi theo cách 800m rồi 700m thả 1 quả, đây là vũ khí đánh chặn địch rất hiệu quả.

Cán bộ, chiến sĩ tàu 43 anh hùng.                                                            ẢNH: NVCC
Cán bộ, chiến sĩ tàu 43 anh hùng. ẢNH: NVCC


Đến 4 giờ 30 phút, tàu 43 lao vào bờ, chỉ huy liền lệnh cho tổ đưa thương binh và liệt sĩ vào bờ trước, tổ hỏa lực đưa một bộ phận vào bờ chiếm địa hình có lợi chiến đấu, tổ còn lại bám trụ bắn trả chính xác tiêu diệt địch, chi viện cho tổ cảm tử đánh bộc phá hủy tàu. Đây là lúc căng thẳng, nguy hiểm nhất, con tàu thành mục tiêu cố định của địch. Quyết không để con tàu lọt vào tay giặc, chúng tôi đã đặt bộc phá, rồi điểm hỏa dây cháy chậm trước khi rời tàu. Sau gần 30 phút, một tiếng nổ xé trời vang lên. Cả con tàu không còn một dấu vết.

Sau đó, toàn tổ nhanh chóng vào bờ, rồi bắt được liên lạc với du kích địa phương, đưa chúng tôi xuống hầm bí mật để tránh trận càn của một tiểu đoàn lính thủy đánh bộ của Mỹ. Đóng trên núi Vàng gần một tuần, chúng tôi mới được du kích thôn Quy Thiện, xã Phổ Hiệp tìm đường đưa chúng tôi vượt qua được ấp chiến lược, tiếp đó vượt qua được cửa tử là con đường số 1 đi lên Phổ Cường để đến bệnh xá của bác sĩ Đặng Thùy Trâm. Chúng tôi chữa trị vết thương hơn 1 tháng, rồi từ đây, lại tiếp tục hành quân ra Bắc lần thứ 2, để tiếp tục nhận nhiệm vụ mới.


Hồi ký của  TRẦN ANH TUẤN(*)


------------
(*)Cựu chiến binh Trần Anh Tuấn-Chính trị viên của tàu 43, Đoàn tàu không số.



 

,
,
,