Giao thừa Đinh dậu 28-01-2017
  • 00

    Ngày

  • 00

    Giờ

  • 00

    Phút

  • 00

    Giây

abc
.
,
Già làng hào sảng giữa đại ngàn
Cập nhật lúc 16:16, Thứ Ba, 31/01/2017 (GMT+7)

(Báo Quảng Ngãi)- Giữa đại ngàn Trường Sơn có một “lão đại gia mù” hào sảng, nhiệt tình giúp đỡ những người nghèo khó làm ăn. Ông lập ra “kho thóc cứu đói” cho người dân trong làng; làm “chủ tọa" của các "phiên tòa hòa giải” cho những mái nhà Ca Dong êm ấm.Là tấm gương điển hình làm theo lời Bác, ông tên là Đinh Văn Vật, ở thôn Mang He, xã Sơn Bua, huyện Sơn Tây.

TIN LIÊN QUAN

Vượt lên nghịch cảnh

Thời trai trẻ, cũng như bao trai gái Ca Dong của làng, khi cuộc chiến tranh giành độc lập dân tộc bước vào giai đoạn khốc liệt, chàng thanh niên Đinh Văn Vật cầm súng ra tiền tuyến. “Đạn bom không hề hấn gì với tôi, vậy mà trong một lần hành quân cùng đồng đội, không may bị trúng chất độc hóa học của địch, khiến đôi mắt tôi bị nhiễm trùng và mờ dần, rồi mù hẳn”, giọng ông chùng xuống. Đó là năm 1973, khi ông mới bước vào tuổi thanh xuân của cuộc đời.

Ông  Đinh Văn Vật đi thăm đồng lúa của mình. ảnh: L.Đ
Ông Đinh Văn Vật đi thăm đồng lúa của mình. ảnh: L.Đ


Trở về sau cuộc chiến tranh, đôi mắt không còn nhìn thấy là trở lực quá lớn. Những tính toán cũng bay theo gió trời. Ông đã có một thời gian dài bất lực và thấy mình là gánh nặng của gia đình. Nhưng rồi, tình yêu thương của cô thiếu nữ Ca Dong Đinh Thị Dết đã sưởi ấm cuộc đời ông. Một câu chuyện cổ tích giữa núi rừng được mở ra bằng một đám cưới nhỏ. Rồi khi có với nhau mụn con, ông Vật dặn mình phải mạnh mẽ hơn để người vợ chấp nhận hy sinh gắn bó với đời mình không phải thất vọng.

Và bên bờ sông ở Mang He, người làng chứng kiến anh Vật mù mỗi ngày cần mẫn khai hoang, có khi tự cuốc vào chân mình, khi lại vấp ngã xuống sông, nhưng ông không bao giờ nản chí. Sau hơn 5 năm, ông đã khai hoang được 23ha ruộng để trồng lúa nước. Không nhìn thấy hạt lúa, nhưng ngửi mùi lúa chín, ăn hạt cơm do chính mình làm ra, với ông Vật ý nghĩa vô cùng.

Cứ thế, đất trồng lúa nước của ông ngày càng “phình” ra và cuộc sống của gia đình ngày càng khá giả. Không chỉ làm ruộng, ông bảo vợ bán lúa mua trâu, bò về nuôi lấy sức kéo. Từ chỗ chỉ có hai con bò và hai con trâu đến những năm đầu thập niên 90, ông Vật đã có trong tay đàn trâu, bò lên đến hàng chục con.

Lập kho thóc cứu đói cho dân

Với đồng bào Ca Dong nơi rẻo cao Mang He, ông Vật là chỗ dựa của họ từ vật chất cho đến tinh thần. Vào những năm cuối thập niên 80, đầu 90 trong một bữa cơm tối, ông Vật nghe vợ nói người làng đang thiếu ăn, phải vào rừng hái rau dại về lót dạ qua ngày. Ông Vật không thể khoanh tay đứng nhìn, ông bàn với vợ lập kho trữ lúa... cứu đói cho người dân.  

 Ông Đinh Văn Tôn (bên  phải) cảm ơn ông Vật đã giúp đỡ gia đình ông và bà con xóm giềng.          Ảnh: L.Đ
Ông Đinh Văn Tôn (bên phải) cảm ơn ông Vật đã giúp đỡ gia đình ông và bà con xóm giềng. Ảnh: L.Đ


Nhưng quyết định táo bạo nhất của ông không phải là lập kho thóc cứu đói, mà là “tặng” đất trồng lúa cho những hộ nghèo nhất làng để họ có đất canh tác. “Tôi cho lúa hoài như vậy thì người dân chỉ có cái ăn tạm thời chứ không thể giúp họ ổn định được. Với lại nhà mình đất nhiều, nên tôi cho họ để họ làm ăn. Khi nào người dân tự giải quyết cái đói mới tính chuyện làm giàu được. Tôi ngày trước cũng thế chứ có hơn gì”, ông Vật chia sẻ.

Nhiều người từ chỗ thiếu ăn được ông cho đất trồng lúa như người đuối nước vớ được cọc. Là hộ gia đình “nghèo kiên trì” quanh năm phải nhận trợ cấp từ kho thóc của ông Vật, từ ngày vợ chồng anh Đinh Văn Tin được ông Vật tặng cho mảnh ruộng gần 1.000m2 đã không còn cảnh phải mang gùi đi nhận lúa cứu đói của ông Vật nữa. “Nhờ bác ấy cho đất ruộng để làm, mà gia đình tôi mới thoát khỏi cảnh đói giáp hạt”,  anh Tin trải lòng.

“Quan tòa” của làng Mang He

Ở xứ núi một tiếng gà gáy ba tỉnh cùng nghe này, ông Vật không chỉ nổi tiếng hào sảng mà còn là một “quan tòa” đặc biệt. Ông bảo cái duyên nó vận vào mình. Đó là vào một ngày cuối năm 2011, đôi vợ chồng trẻ trong làng xích mích chuyện gia đình dẫn đến người chồng đánh vợ. Người vợ oan ức báo lên xã và một mực đòi ly dị. Xã hòa giải mãi không được, tưởng chừng đôi vợ chồng trẻ phải đường ai nấy đi thì chuyện đến tai ông Vật. Nghe người nhà kể đầu đuôi câu chuyện, ông tìm đến nhà và nói chuyện với hai vợ chồng trẻ. Ngay đêm hôm đó, một “phiên tòa” được mở ra tại căn nhà của thôn với đông đủ bà con hàng xóm chứng kiến. Ngồi ở ghế “chủ tọa”, ông Vật phân tích cái sai, cái đúng của từng người và sau đó cả hai đã tái hợp. Từ ngày giữ lại mái ấm cho gia đình anh S, ông Vật lại được dân làng tin tưởng hơn và từ đó cái vai trò “chủ tọa” hòa giải vô tình vận vào ông. Rất nhiều cuộc cãi vã, xích mích giữa người dân trong làng, giữa các cặp vợ chồng trẻ đã được ông hóa giải một cách êm thấm.

 

Lê Đức


 

,
,
,