Giao thừa Đinh dậu 28-01-2017
  • 00

    Ngày

  • 00

    Giờ

  • 00

    Phút

  • 00

    Giây

abc
.
,
Bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc từ nhận thức
Cập nhật lúc 08:18, Thứ Hai, 30/01/2017 (GMT+7)

(Báo Quảng Ngãi)- Sự mở cửa, hội nhập để phát triển là tất yếu, nhưng kèm theo nó là sự thử thách cam go đối với việc bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc thiểu số.

Trước sự phát triển “thần tốc” của truyền thông, chưa bao giờ trong suốt hành trình dài của lịch sử, di sản văn hóa dân tộc thiểu số ở nước ta bị thách thức bởi sự tồn tại hay không tồn tại như bây giờ.

Nguy cơ mai một

Định hướng xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc cách nay hơn 15 năm đã được thực hiện, với rất nhiều nỗ lực từ phía Nhà nước, giới trí thức đến toàn thể cộng đồng. Thế nhưng, như vậy vẫn chưa đủ, vì di sản văn hóa dân tộc thiểu số nước ta vẫn tiếp tục bị mai một, thất thoát.
 

 

Gói bánh nếp. ảnh: Nhân Hiếu
Gói bánh nếp. ảnh: Nhân Hiếu


Đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Ngãi ngày càng ít dùng trang phục dân tộc, ngày càng ít người biết chơi cồng chiêng, hát các bài dân ca của dân tộc mình. Thậm chí, không gian văn hóa nhà sàn các dân tộc Hrê, Ca Dong ngày càng ít đi, nhà sàn cổ truyền dân tộc Cor ở vùng Trà Bồng, Tây Trà khoảng trên 30 năm nay đã hoàn toàn vắng bóng. Điều gì sẽ xảy ra nếu thế hệ người cao tuổi mất đi? Đây là câu hỏi không dễ trả lời, nếu như chúng ta không muốn sự mất đi vĩnh viễn một bộ phận không nhỏ di sản, bản sắc văn hóa dân tộc.

Lời giải nhận thức

Kinh nghiệm của tôi trong thời gian quản lý và nghiên cứu văn hóa là có những di sản đã biến mất trước khi ta nhận thức về nó, có những di sản do chưa được khơi sáng, nên nó chìm dần trong vô số những sinh hoạt bình thường hoặc biến chất thành cái khác. Cho nên nhà nghiên cứu phải là người đi tiên phong, kịp thời trong việc nhận diện di sản và giá trị của nó. Tất nhiên, nhận thức không chỉ để riêng cho nhà nghiên cứu, mà nó phải được phổ biến rộng rãi vào cộng đồng, để cộng đồng nhận thức lại cái di sản mình có, điều đó mới thật đúng ý nghĩa.

Nghề dệt thổ cẩm truyền thống. Ảnh: NGỌC ĐƯỜNG
Nghề dệt thổ cẩm truyền thống. Ảnh: NGỌC ĐƯỜNG


Tuy nhiên, nếu nhận thức của nhà nghiên cứu chỉ ở mức độ chung chung, tầm tầm, chưa đến nơi đến chốn thì việc bảo tồn di sản văn hóa dân tộc sẽ khó khăn hơn rất nhiều. Nếu nhận thức của các nhà nghiên cứu chậm trễ, thì nguy cơ di sản văn hóa không kịp bảo tồn trên đà mai một rất nhanh của nó, các nghệ nhân lớn tuổi sẽ lần lượt từ giã cõi đời và coi như di sản văn hóa sẽ chôn vùi vĩnh viễn.
 

“Từ nhận thức được giá trị, vai trò của di sản văn hóa, chính cộng đồng sẽ biết mình phải làm gì để bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc”

Trong rất nhiều hội nghị về văn hóa, có rất nhiều lần mọi người kiến nghị các cấp ủy đảng và chính quyền địa phương cần nâng cao nhận thức về vai trò của văn hóa, vai trò của di sản văn hóa dân tộc. Không phải tất cả, nhưng có khá nhiều trường hợp những người lãnh đạo, quản lý ở các địa phương, chưa thật sự là những người có nhận thức đầy đủ về chủ trương bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc thiểu số, lại thiếu tâm huyết, cho nên ở nhiều nơi việc bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc thiểu số vẫn rất hạn chế và không có những tiến triển gì đáng kể.

Bác Hồ từng nói: Đảng viên đi trước, làng nước theo sau. Chính các nhà lãnh đạo, quản lý ở các địa phương là những người cần phải nâng cao nhận thức của mình về di sản văn hóa dân tộc, về vai trò của nó trong đời sống và phải là người gương mẫu, vận động mọi người cùng chung tay bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc. Bằng ngược lại, sẽ rất khó để di sản văn hóa dân tộc thiểu số được bảo tồn và phát huy.

 Bếp lửa mùa xuân. Ảnh: Phùng Căn
Bếp lửa mùa xuân. Ảnh: Phùng Căn


Vai trò của nhà nghiên cứu, nhà quản lý là hết sức quan trọng, nhưng cũng phải nhấn mạnh rằng vai trò của cộng đồng dân tộc mới mang tính quyết định sự tồn tại của di sản văn hóa. Bởi, chính cộng đồng mới là chủ nhân của di sản đó và di sản đó có tồn tại hay không là ở cộng đồng. Từ đó, nhận thức của nhà quản lý và nhà nghiên cứu đều hướng đến cộng đồng, biến nhận thức của mình trở thành nhận thức chung của cộng đồng, từ nhận thức biến thành hành động thực tế thì mới mang lại kết quả.

Ta nhìn ngược lại lịch sử, ngày xưa đồng bào dân tộc thiểu số còn có thể khó khăn hơn ngày nay, mà người ta có nghĩ đến việc bán cồng chiêng đâu? Như vậy vấn đề căn cốt vẫn nằm trong ý thức con người. Có thể xưa kia, đồng bào nhận thức rằng cồng chiêng là di sản thiêng liêng, có hồn chiêng, là vô giá, nên họ không bán cồng chiêng với bất cứ giá nào. Tín ngưỡng như một nhân tố giúp giữ lại. Còn trong bối cảnh ngày nay, vật thể này đã bị “giải thiêng”, chỉ còn trơ cái vỏ vật chất, người ta dễ dàng bán nó với giá rất hời.

Múa cồng chiêng của người Ca Dong ở Sơn Tây. ẢNH: Văn Xuân
Múa cồng chiêng của người Ca Dong ở Sơn Tây. ẢNH: Văn Xuân


Trong đời sống, người ta có thể dễ dàng bỏ những gì mà người ta cho là không còn cần, không có giá trị, dù cuộc sống đã được cải thiện, và ngược lại, nếu nhận thấy vật nào đó là cần thiết, là rất có giá trị với đời sống của mình, thì dù có ngặt nghèo đến đâu người ta cũng cố sức giữ lại.

 
Trong đồng bào không ít người không sử dụng cồng chiêng, không mặc y phục dân tộc, không hát dân ca của dân tộc mình... vì họ mặc cảm rằng, đó là sản phẩm lạc hậu, mà không hiểu những giá trị không đo đếm được của nó. Cho nên vấn đề chính cũng quy về nhận thức. Tất nhiên sự tăng cường nhận thức đối với đồng bào dân tộc thiểu số phải bằng những cách thức phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của từng nơi, từng lúc. Từ nhận thức được giá trị, vai trò của di sản văn hóa, chính cộng đồng sẽ biết mình phải làm gì để bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc.
 
Cao Chư

 
,
,
,