Giao thừa Bính Thân 08-02-2016
  • 00

    Ngày

  • 00

    Giờ

  • 00

    Phút

  • 00

    Giây

abc
.
,
Hậu Thạch Nham
Cập nhật lúc 13:52, Thứ Sáu, 07/02/2014 (GMT+7)

(Báo Quảng Ngãi)- Nhắc đến Quảng Ngãi, người ta lại nghĩ đến Thạch Nham - công trình kết tinh sức mạnh của Đảng bộ và nhân dân Quảng Ngãi trong những năm đầu thập niên 90 thế kỷ XX. Sự xuất hiện của nó đã khơi nguồn mạch sống trong đất và người Quảng Ngãi sau chuỗi ngày gian khó. Để rồi hôm nay, quê hương núi Ấn sông Trà có được màu xanh của sự trù phú, thịnh vượng…

TIN LIÊN QUAN


Trong cái se lạnh của những ngày cuối đông, tôi dong xe rong ruổi về nơi từng được mệnh danh “chó ăn đá, gà ăn sỏi”. Đó là Tịnh Trà, một trong bốn xã đồng gieo (cùng với Tịnh Thọ, Tịnh Hiệp, Tịnh Bình) nghèo nhất của huyện Sơn Tịnh những năm 1990. Nghèo vì cánh đồng ngày ấy trơ trọi, khô cằn. Mùa nắng chỉ độc cỏ cháy. Mùa mưa thì mì, lúa đã lưa thưa lại còn “trì trì”- tức nằm hoài trên đất mà không chịu trổ hạt, ra củ. Đến vụ thu hoạch, một đám mì lớn chỉ được dăm ba bao củ, còn mỗi sào lúa cũng vỏn vẹn 20 - 25 ang. Chẳng thế mà lúc ấy, nồi cơm của người dân Tịnh Trà là một hạt gạo cõng 4 - 5 lát củ mì. Nhưng, khi công trình Thạch Nham ra đời và bắt đầu dẫn nước vào tháng 3.1991, mọi chuyện đã khác.

 

Công trình đầu mối thủy lợi Thạch Nham. Ảnh: V.Xuân
Công trình đầu mối thủy lợi Thạch Nham. Ảnh: V.Xuân


Có nước, vùng đất đồng gieo hồi sinh với màu xanh bạt ngàn của lúa, đậu phụng, bắp lẫn dưa hấu. Có nước, nồi cơm của người dân thoát cảnh độn khoai. Có nước, Tịnh Trà không còn là “xã đồng gieo” mà là xã điểm nông thôn mới của huyện Sơn Tịnh với năng suất lúa bình quân 62 tạ/ha, thu nhập 17 triệu đồng/người/năm. Hẳn thế mà dù đã 23 năm trôi qua, nhưng mỗi khi dòng nước Thạch Nham chảy vào tuyến mương dài 6,5 km vắt qua xã, người dân nơi đây lại bồi hồi, xúc động. Nói như lão nông Nguyễn Ngọc Đông (70 tuổi) ngụ thôn Phú Thành thì: “Mỗi khi nghe mở nước Thạch Nham, tôi lại nhớ cảnh bà con đốt pháo mừng nước về đồng hồi năm 1991”.

Ngược kênh chính Bắc, men theo tuyến kênh chính Nam của dòng Thạch Nham đưa tôi vào “vựa lúa” Mộ Đức. Trên cánh đồng xanh rì mạ non, rộng tít tắp, nông dân đang cặm cụi bón phân, dặm lúa. Trong số ấy, có cả cụ ông, cụ bà đã ngoài tuổi thất thập cổ lai hy. Cụ Nguyễn Dụng (90 tuổi) ngụ thôn 2-một trong những lão nông tri điền của xã Đức Nhuận, bảo: “Rảnh rỗi, ra thăm ruộng cho đỡ nhớ”. Nói đoạn, cụ Dụng bỗng trầm ngâm, mắt nhìn xa xăm như đang lục tìm hồi ức.

Giọng khản đặc vì xúc động, cụ Dụng bảo rằng, không ngờ sau hơn 20 năm, cánh đồng rộng mênh mông từng là thủ phủ của cỏ chỉ, cỏ gấu lại trở thành nơi “đẻ” lúa, “sinh” rau lớn nhất nhì tỉnh. Đồng ruộng không còn cảnh nông dân lúi húi cấy mạ, vật vã với “con trâu đi trước, cái cày theo sau” mà giờ đây, sạ lúa có giống, làm đất có máy băm, quá trình sản xuất có kỹ thuật IPM hỗ trợ… nên từ một vụ hưởng nước trời sang hai vụ ăn chắc, năng suất lúa tăng đều từ 20 - 25 ang lên 3 - 4 tạ/sào (62 - 80 tạ/ha); rồi những cánh đồng có doanh thu 200 - 300 triệu đồng/ha nhờ xen canh lúa - rau màu - cây công nghiệp ngắn ngày ra đời. Nông dân vì thế thừa gạo, thêm lợi nhuận nên không còn thiếu đói, cũng chẳng phải thấp thỏm trông chừng vò gạo như ngày xưa. Nhiều hộ thậm chí thoát nghèo và có của ăn của để.

Chẳng thế mà nguyên Giám đốc Sở Nông lâm những năm 1990 (nay là Sở NN&PTNT) Nguyễn Đức Tư bảo rằng: “Không có Thạch Nham thì không có Quảng Ngãi như ngày hôm nay. Nó chẳng những trực tiếp tạo dáng, nặn hình cho Quảng Ngãi mà còn là “bầu sữa” nuôi nông dân, dưỡng nông thôn. Hai mươi năm qua đã thế, sau này vẫn vậy”.

Trong khi nông dân gặt hái nhiều “quả ngọt” thì với ngư dân, chặng đường “hậu Thạch Nham”, mà nhất là 10 năm trở lại đây được họ xem là thời kỳ vàng son của mình. Vì nói như lão ngư Trần Dư Hồng, ngụ xã An Hải (Lý Sơn) thì: “Tàu to, cá mực nhiều, nhà cửa khang trang, con cái học hành đàng hoàng. Rồi Nhà nước hỗ trợ đủ thứ. Hỏi sao không sướng”. Hóa ra những năm 1980, 1990, ngư dân ra biển bằng thuyền buồm, ghe máy đơn sơ nên họ chẳng dám vươn khơi xa. Gắng lắm thì cũng chỉ đến được đảo Lý Sơn là cùng. Với lại theo ông Hồng thì hồi ấy, đa số bà con còn thiếu gạo ăn nên cá là món xa xỉ. Trong khi ngư dân cũng chưa biết cái gọi là ướp lạnh, sấy khô hay xuất khẩu như bây giờ. Vậy nên nếu trúng mẻ cá, mực thì cũng chẳng bán được bao nhiêu. Đành ướp muối, để ăn dần.

 

Hậu Thạch Nham là những vùng lúa óng vàng trĩu hạt. Ảnh: Mỹ Hoa
Hậu Thạch Nham là những vùng lúa óng vàng trĩu hạt. Ảnh: Mỹ Hoa


Nhưng 10 năm trở lại đây thì khác, cửa biển tấp nập tàu lớn thuyền nhỏ ra vào nhập hàng, xuất cá vô Nam ra Bắc, hay vượt đại dương đến với các nước bạn. Trên các vùng biển, từ Hoàng Sa đến Trường Sa, từ trong nước đến nước ngoài đâu đâu cũng in dấu chân ngư dân Quảng Ngãi. Khoang thuyền càng đầy cá to, mực lớn thì nhà ngói mọc lên càng nhiều, đường sá rộng đẹp, ngư dân càng sống khỏe. Thế nhưng, nhiều lão ngư bảo rằng, dù tàu to, máy lớn, trang thiết bị hỗ trợ nào Icom, máy dò cá cũng không thể sánh với tình cảm mà Nhà nước và nhân dân đã dành cho họ. Từ việc hỗ trợ vốn, nhiên liệu đến thành lập các nghiệp đoàn nghề cá đoàn kết vươn khơi. Vậy nên dù trước mắt là sóng to gió lớn, là hiểm nguy rình rập nhưng ngư dân vẫn vững vàng đối mặt vì họ biết quê hương, đất nước vẫn luôn bên mình.

Nhìn lại chặng đường 25 năm, nhất là sau ngày Thạch Nham hoàn thiện, Giám đốc Sở NN&PTNT Dương Văn Tô bảo: “Đó là những thước phim huyền thoại về nông nghiệp, nông dân”. Không huyền thoại sao được khi sau 25 năm, giá trị sản xuất nông nghiệp đạt hơn 3.100 tỷ đồng. Sản lượng lương thực ước đạt 472 nghìn tấn. Năng suất lúa tăng từ 20 - 25 tạ/ha lên 56 tạ/ha. Tỷ lệ che phủ rừng trên 47%. Sản lượng khai thác thủy sản đạt gần 147 nghìn tấn. Đàn gia súc gia cầm hơn 4,5 triệu con...

Cơ sở hạ tầng nông thôn từng bước hoàn thiện, với gần 64% tuyến đường huyện đã được cứng hóa, nhựa hóa; hơn 45,9% đường xã, gần 10% đường thôn, xóm và 36,2% tuyến kênh mương đã được kiên cố. Thu nhập bình quân của người dân vượt 2.000 USD/người/năm, tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 14,36%. Đó quả là những con số biết nói, khắc họa phần nào bức tranh về nông nghiệp, nông thôn, nông dân Quảng Ngãi.
***
Một mùa xuân nữa lại về! Xuân tràn vào từng con ngõ, nếp nhà, khắp xóm trên làng dưới. Mùa xuân này càng đẹp hơn, ấm áp hơn khi Quảng Ngãi tự tin bước vào thời kỳ mới. Đó là thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.

Mỹ Hoa

 

,
,
,