Cập nhật lúc: 08:19, 24/04/2012 [GMT+7]
.

Mưu sinh dưới đáy sông


(QNĐT)- Mặc cho nắng cháy hay giá buốt, họ vẫn dầm mình ngụp lặn trong làn nước để bới tìm từng con trùn nước lợ vì cuộc mưu sinh. Và cũng nhờ cái nghề lắm cơ cực này mà nhiều người đã thoát khỏi kiếp đói nghèo. Cuộc đời của họ là những chuỗi ngày bập bềnh theo con nước.

TIN LIÊN QUAN


Trốn đời” dưới đáy sông...


Những năm gần đây, nghề đào trùn nước lợ dưới lòng sông Thoa đã giúp cho hàng chục hộ dân xã Phổ Quang, huyện Đức Phổ có được cuộc sống no đủ. Chỉ với chiếc cuốc và kính lặn trên 100.000 đồng, nhưng khoản thu nhập từ việc đào trùn nước khá cao so với những công việc khác ở địa phương. Nhiều người trân trọng gọi loài thủy sinh này là “rồng đất” vì đã giúp họ thoát khỏi đói nghèo.

 Ngoi lên mặt nước để tiếp dưỡng khí
Ngoi lên mặt nước để tiếp dưỡng khí


Do ngày càng có nhiều người đào bắt nên lượng trùn cũng vì thế mà suy giảm. Thay vì đào ở những bãi cát cạn nước khi triều xuống như trước đây thì nhiều người phải ngụp lặn dưới dòng nước sâu đến tận cổ. Chiều muộn trên sông, hàng chục người vẫn cứ thoắt ẩn thoắt hiện với phần đầu nhấp nhô trong làn nước phẳng lặng.

Sau vài giây ngụp lặn, “thợ săn” tên Hải (18 tuổi, ở thôn Du Quang) lại ngoi lên tiếp thêm dưỡng khí qua nhịp thở vội vàng. Cứ vài lần như thế thì mặt nước xao động mạnh với những nhát cuốc bổ vội. Và thành quả là con trùn nước cố sức vùng vẫy, miễn cưỡng chui vào chiếc áo thun Hải đang bận trên cơ thể được buộc chặt sợi dây ngang hông ngăn trùn thoát ra bên ngoài.

Sau khi lên bờ để tháo trùn ra khỏi áo, Hải vội lao xuống nước khi thấy tôi hăm hở vác máy ảnh lao đến. “Nghề của tụi em như những kẻ “trốn đời” dưới đáy sông mà anh chụp ảnh đăng báo làm chi?” – Hải nói vọng lên bờ trước khi lặn vào dòng nước xanh thẳm trong trời chiều.

Sau buổi ngụp lặn, anh Nguyễn Văn Quảng chỉ đào bắt được vài con trùn nước và biếu luôn cho người bạn đi cùng. “Coi vậy chứ không phải dễ anh à! Trông thấy miệng hang rồi đấy, nhưng nếu đào chậm tay thì trùn sẽ trốn thoát ngay. Nhiều lúc đào bới gặp phải mảnh chai vỡ hay vỏ nghêu, sò… cứa vào tay tóe máu. Sau mỗi buổi lặn, da cứ xám ngoét như xác chết, nhiều khi lạnh cóng phải vội lên bờ rồi xoa mạnh hai tay vào nhau áp nơi thái dương cho đỡ lạnh” – anh cho biết.

Đổi đời nhờ “rồng đất”

Ông Nguyễn Có (58 tuổi) ở thôn Hải Tân cho biết: Nghề đào trùn nước bắt đầu khoảng 40 năm về trước, nhưng khi ấy chỉ làm mồi cho những thuyền câu gần bờ nên giá rất thấp. Sau mỗi buổi đào bắt từ 4 giờ sáng, ông kiếm được khoảng 10kg trùn, nhưng cũng chỉ đổi được vài lon gạo. Vì vậy mà với hơn 12 năm đào trùn và làm thuê, cuốc mướn, ông vẫn “nghèo rớt mồng tơi” khi phải lo cho 10 người con cùng với người cha già hay đau yếu.

 Anh Nguyễn Văn Quảng với thành quả sau một buổi ngụp lặn đào bới.
Anh Nguyễn Văn Quảng với thành quả sau một buổi ngụp lặn đào bới.


Bắt đầu từ năm 2002, nhiều người dân xã Phổ Quang hành nghề đào trùn nước lợ khi một số tư thương ở Bình Định ra tận nơi thu mua với giá cao. Vì vậy mà lượng trùn đào được ngày càng giảm so với trước. Cùng với việc đào ở những bãi cát cạn theo mực nước thủy triều, nhiều người phải ngụp lặn đào bới dưới mực nước sâu trên 1m.

Sau 6 – 7 giờ vào hai buổi sáng chiều, mỗi người đào được từ 4 – 10kg. Với giá thu mua mỗi ký hiện trên 50.000 đồng, mỗi ngày như thế cũng kiếm được vài trăm nghìn đồng.

Hiện ông Có đã nghỉ việc đào bắt do đau yếu nhưng hai người con trai của ông là Nguyễn Công và Nguyễn Huệ tiếp bước cha thay vì đi biển. Và chỉ sau 3 năm ngụp lặn dưới lòng sông Thoa, hai anh đã giúp ông xây được căn nhà khá bề thế cùng với những vật dụng đắt tiền.

Ông Nguyễn Anh Tuấn – Chủ tịch UBND xã Phổ Quang cho biết: Trên địa bàn xã hiện có hơn 100 hộ dân mưu sinh trên sông Thoa với việc cào don, cào trai, chài lưới … Riêng nghề “săn rồng đất” đã giúp cho hơn 40 hộ dân thoát cảnh đói nghèo.

Của ngon “dâng người”

Sau nhiều năm đào trùn nước, cơ thể ông Nguyễn Có như “rệu rã”, luôn đau nhứt mỗi khi trái gió trở trời. “Tuy có tiền nhưng lắm cực nhọc vì cả buổi phải ngâm mình dưới nước lại phải cố sức đào nhanh kẻo trùn chui sâu vào hang. Nhiều hôm rét buốt khiến hai hàm răng cứ va vào nhau dù liên tiếp vung cuốc mệt đến đứt hơi. Bởi vậy, cơ thể tôi luôn ê ẩm mỗi khi đêm về, cứ như bị cây đánh vào người…” – ông Có than thở.

Dù kiếm được khoản tiền khá lớn sau buổi ngụp lặn dưới lòng sông, nhưng anh Hải vẫn nhất quyết bỏ nghề và hiện chỉ chuyên thu mua để bán lại kiếm lời. “Cái nghề ấy nó bạc như con nước chú à! Chỉ có những người tuổi đời từ 17 – 30 mới đủ sức ngụp lặn chứ gần bốn mươi như tôi phải chấp nhận “lên bờ” kẻo có ngày chết mất xác. Suốt ngày cứ ngụp lặn đào bới, bao nhiêu chất thải xả xuống sông đều nhiễm vào người thì làm sao khỏi bệnh? Thôi thì tằn tiện chi tiêu, chứ nếu cứ đeo bám lấy nó thì đến lúc ngã bệnh sợ chẳng đủ tiền thuốc thang chữa trị” – anh Hải nói.

Bà Nguyễn Thị Cơ, người có thâm niên  gần 10 năm thu mua trùn nước lợ ở đây, cho biết: Trùn tươi sau khi thu mua được rửa sạch, lộn ruột, phơi khô để nhập cho những tiệm thuốc bắc, nhà hàng, quán phở, bún, lẩu ở cả trong Nam, ngoài Bắc và xuất khẩu ra nước ngoài với giá mỗi ký lên đến hàng trăm nghìn đồng. Trùn được dùng để ngâm rượu, nấu cháo và chế biến món gỏi… với giá trị dinh dưỡng rất cao.

Bà Nguyễn Thị Cơ với số trùn nước vừa được thu mua
Bà Nguyễn Thị Cơ với số trùn nước vừa được thu mua


“Trùn nước có thể ngâm rượu để bồi dưỡng cơ thể, chữa trị đau nhức, và “đem lại sung mãn cho phái mày râu trong chuyện ấy”. Chỉ cần dăm bảy lạng trùn dùng để nấu cháo hay chế biến món gỏi thì sau khi ăn xong bà xã sẽ vui hết biết” – ông Phạm Văn Mịnh – Phó Chủ tịch UBMTTQVN xã Phổ Quang, hóm hỉnh nói.


Tuy mỗi ngày đào được từ 5 – 10kg trùn, có khi lên đến hàng chục ký, nhưng anh Nguyễn Huệ (con trai ông Có) vẫn không dám thưởng thức hương vị của loài thủy sinh được xem là đặc sản này. “Mỗi ký trùn khi chế biến chẳng được là bao nên tiếc lắm anh à! Thôi thì nhịn miệng để bán kiếm tiền lo cho gia đình” – anh nói.

“Dù đào bắt được trùn nhưng họ đều đem bán chứ chẳng ai dám ăn vì giá quá cao. Ngay cả tôi, mỗi ngày thu mua hàng trăm ký rồi sang lại kiếm lời chứ mấy khi dám đụng đến món ấy” – anh Hải nói.

Trang Thy

 

.