,
Cập nhật lúc 15:24, Monday, 29/03/2010

Phim tư liệu: Đại thắng mùa xuân 1975


(QNĐT)- Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, mà đỉnh cao là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, với Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đã kết thúc thắng lợi vẻ vang sau 21 năm chiến đấu đầy gian khổ, hy sinh. Đất nước độc lập, thống nhất, non sông thu về một mối, nhân dân cả nước bắt tay cùng xây dựng cuộc sống mới. 
 
.
 
Từ tháng 10 đến tháng 12 - 1974, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương cùng cán bộ lãnh đạo, chỉ huy các chiến trường họp thống nhất quyết tâm chiến lược giải phóng miền nam trong 2 năm 1975-1976. Bộ Chính trị còn dự kiến một phương án nữa: nếu thời cơ đến thì lập tức giải phóng miền nam trong năm 1975. 
 
Tháng 7-1973, BCH T.Ư Đảng họp hội nghị lần thứ 21, khẳng định: Nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền nam trong giai đoạn mới là tiếp tục thực hiện chiến lược cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân, kiên định con đường cách mạng bạo lực, giữ vững chiến lược tiến công. Tháng 7-1974, đồng chí Lê Duẩn, Bí thư Thứ nhất BCH T.Ư Đảng, trực tiếp hướng dẫn Bộ Tổng tham mưu khởi thảo kế hoạch chiến lược giải phóng miền nam.
 
Từ tháng 10 đến tháng 12 - 1974, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương cùng cán bộ lãnh đạo, chỉ huy các chiến trường họp thống nhất quyết tâm chiến lược giải phóng miền nam trong 2 năm 1975-1976. Bộ Chính trị còn dự kiến một phương án nữa: nếu thời cơ đến thì lập tức giải phóng miền nam trong năm 1975. 
 
Chiến dịch Tây Nguyên mở màn từ ngày 4-3-1975 với đợt hoạt động tác chiến dồn dập của Sư đoàn 3 và Trung đoàn 95A đánh cắt đường 19, đoạn từ An Khê đến phía nam Bình Khê; Trung đoàn 25 của Quân khu 5 đánh cắt đường 21; Sư đoàn 968 tập kích bằng đặc công và pháo binh vào thị xã Kon Tum, Plây Cu, tích cực nghi binh để ghìm giữ địch ở phía bắc Tây Nguyên. Đồng thời, Sư đoàn 316 tiến vào phía nam thị xã Buôn Ma Thuột; Sư đoàn 320 áp sát đường số 4, ngày 7-3 đánh chiếm điểm cao Chư Duề, ngày 8-3 tiến công cứ điểm Thuần Mẫn. Ngày 9-3, Sư đoàn 10 tiến công giải phóng quận lỵ Đức Lập. Thị xã Buôn Ma Thuột hoàn toàn bị bao vây và cô lập. 
 
Đợt hoạt động thứ 2 bắt đầu vào rạng sáng 10-3 với việc các đơn vị quân ta đồng loạt tiến công thị xã Buôn Ma Thuột từ các hướng. Đòn tiến công bất ngờ dồn dập vào Sân bay Hòa Bình, Khu kho Mai Hắc Đế, căn cứ Sư đoàn 23, Trung đoàn 53 ngụy và nhiều vị trí khác đã khiến địch không kịp trở tay, hoàn toàn bị động, chống đỡ yếu ớt. Đến trưa 11-3-1975, quân ta hoàn toàn làm chủ thị xã. Những ngày sau đó, các lực lượng tham gia phối hợp chặn đánh các đơn vị quân ngụy phản kích hòng chiếm lại thị xã và tiêu diệt các vị trí chung quanh. Đòn điểm huyệt Buôn Ma Thuột đã làm rung chuyển toàn bộ thế bố trí của địch trên địa bàn Tây Nguyên. 
 
Ngày 14-3-1975, Tổng thống ngụy quyền Nguyễn Văn Thiệu quyết định rút bỏ Tây Nguyên, cụ thể là rút khỏi Kon Tum, Plây Cu theo đường số 7 về giữ vùng đồng bằng ven biển. Quyết định sai lầm về mặt chiến lược của địch, trong tình thế hoảng loạn, đã mở đầu cho sự sụp đổ dây chuyền của chế độ ngụy quyền, ngụy quân. 
 
Từ ngày 17 đến 24-3-1975, quân ta truy kích, chặn đánh các lực lượng địch từ Plây Cu, Kon Tum rút chạy, đoạn từ Cheo Reo đến Củng Sơn, tiêu diệt, bắt sống một bộ phận lớn sinh lực địch. Phối hợp với hướng chính, từ 17 đến 22-3, quân ta giải phóng Kon Tum, Plây Cu, An Khê, Gia Nghĩa, Kiến Đức. Tây Nguyên hoàn toàn giải phóng với 5 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đác Lắc, Phú Bổn, Quảng Đức. 
 
Cục diện chiến lược toàn miền nam có sự thay đổi lớn với sự rút lui chiến lược của ngụy quyền Sài Gòn. 
 
Trong khi tiếng súng chưa ngừng nổ ở mặt trận Tây Nguyên, thì ngày 18-3-1975, cuộc họp của Bộ Chính trị mở rộng nhận định thời cơ chiến lược đã tới, quyết định bổ sung quyết tâm chiến lược: giải phóng miền nam ngay trong năm 1975. Không những thế, ngày 25-3, Bộ Chính trị còn bổ sung quyết tâm: Giải phóng miền nam ngay trước mùa mưa. Hướng phát triển tiếp theo thắng lợi của Chiến dịch Tây Nguyên là tiến xuống đồng bằng ven biển, giải phóng các tỉnh lỵ và thành phố Huế, Đà Nẵng, thực hiện chia cắt chiến lược, không cho địch co cụm và có thể liên hệ với nhau để đối phó. 
 
Từ ngày 21 đến 29-3-1975, quân ta liên tiếp mở 2 chiến dịch tiến công Huế, Đà Nẵng. Các lực lượng chủ lực của Binh đoàn Hương Giang và Quân khu 5, Quân khu Trị Thiên đã mở các trận tiến công mãnh liệt vào các căn cứ , sở chỉ huy và các đơn vị quân ngụy, giải phóng phần còn lại của tỉnh Quảng Trị, thị xã Quảng Trị.
 
Bộ đội ta đánh thiệt hại nặng và làm tan rã Sư đoàn bộ binh số 1, Lữ đoàn số 147 thuộc Sư đoàn thủy quân lục chiến, Liên đoàn biệt động quân ngụy, thực hành chia cắt quốc lộ 1A, phá vỡ hệ thống phòng ngự phía nam thành phố Huế, truy kích địch về cửa biển Thuận An, Tư Hiền. Ở phía bắc, các lực lượng của Quân khu Trị Thiên đánh địch trên tuyến phòng thủ sông Mỹ Chánh, đánh chiếm quận lỵ Hương Điền, phát triển tiến công vào Huế.
 
Ngày 25-3-1975, thành phố Huế được giải phóng. Ngày 26-3, toàn bộ tỉnh Thừa Thiên được giải phóng. Trên hướng Đà Nẵng, ngày 25-3, các đơn vị chủ lực Quân khu 5 tiến công giải phóng thị xã Tam Kỳ (Quảng Nam) và thị xã Quảng Ngãi, tiêu diệt Sư đoàn bộ binh số 2, Liên đoàn biệt động quân số 11, Thiết đoàn 4, Trung đoàn 6 thuộc Sư đoàn bộ binh số 8 quân ngụy. Tiếp đó, trong đợt 2, từ 27 đến 29-3, các đơn vị chủ lực của ta phát triển tiến công tiêu diệt Sư đoàn thủy quân lục chiến, Sư đoàn bộ binh số 3, đánh vào Bộ Tư lệnh Quân đoàn 1 và Quân khu 1 của ngụy.
 
Đến 15 giờ ngày 29-3-1975, quân ta đã đánh chiếm toàn bộ các mục tiêu quan trọng trong thành phố Đà Nẵng và bán đảo Sơn Trà. Đà Nẵng, vốn là căn cứ liên hợp quân sự lớn nhất của Mỹ-ngụy, được hoàn toàn giải phóng. 
 
Theo đà tiến công như vũ bão của quân và dân ta, cuộc họp của Bộ Chính trị, ngày 31-3-1975, một lần nữa lại bổ sung quyết tâm chiến lược mới: Giải phóng miền nam trong thời gian sớm nhất, tốt nhất là trong tháng 4-1975, không thể chậm, bởi "cuộc chiến tranh cách mạng ở miền nam không những đã bước vào giai đoạn phát triển nhảy vọt mà thời cơ chiến lược để tiến hành cuộc tổng công kích, tổng khởi nghĩa vào sào huyệt cuối cùng của địch đã chín muồi. Từ giờ phút này, trận quyết chiến chiến lược cuối cùng của quân và dân ta đã bắt đầu...". 
 
Việc để mất Huế, Đà Nẵng và toàn bộ địa bàn Quân khu 2, Quân khu 1 đã đẩy chế độ ngụy quyền, ngụy quân vào tình thế tuyệt vọng, không lối thoát, buộc phải tiếp tục cuộc rút chạy chiến lược về phía nam. 
 
Thừa thắng, ngày 1-4-1975, phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương và quần chúng nhân dân, bộ đội ta giải phóng Quy Nhơn (Bình Định) và Tuy Hòa (Phú Yên). Ngày 2-4, ta giải phóng Ninh Hòa, Nha Trang. Ngày 3-4, giải phóng thị xã Cam Ranh. 
 
Ngày 7-4-1975, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Quốc phòng kiêm Tổng Tư lệnh QĐND Việt Nam gửi điện cho các đơn vị nhấn mạnh cần phải "Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa". 
 
Sài Gòn - Gia Định giờ đây là hướng tiến công chiến lược chủ yếu và là mục tiêu chiến lược cuối cùng. Mọi lực lượng , vũ khí trang bị, vật chất bảo đảm đã được tập trung cho trận đánh cuối cùng này. 
 
Ngày 13-4, Bộ Chính trị thông qua kế hoạch giải phóng Sài Gòn - Gia Định mang tên Chiến dịch Hồ Chí Minh. 
 
Ngày 16-4, tuyến phòng ngự từ xa của địch bảo vệ Sài Gòn tại Phan Rang bị quân và dân ta đập tan. Tấm lá chắn đi vào phía bắc Sài Gòn đã để ngỏ. 
 
Trước đó, từ ngày 9-4, các đơn vị thuộc Binh đoàn Cửu Long đã đồng loạt nổ súng tiến công Xuân Lộc, tiểu khu Long Khánh, căn cứ Sư đoàn 18 và Lữ đoàn dù số 1 quân ngụy, khu vực sân bay nhằm mục đích tiêu diệt địch ở vòng ngoài, phá âm mưu phòng ngự từ xa, cắt đứt giao thông, cô lập Sài Gòn. Cuộc chiến đấu ở Xuân Lộc diễn ra rất quyết liệt. Quân địch điên cuồng chống trả, gây cho ta không ít thương vong.
 
Ngày 15-4, quân ta vận động tập kích tiêu diệt Chiến đoàn 52 ngụy ở khu vực ngã ba Dầu Giây. Hai ngày 16 và 17-4, ta đánh lui các đợt phản kích của Lữ đoàn thiết giáp số 3 và Chiến đoàn 8. Ngày 18-4, Sư đoàn 18 ngụy rút chạy khỏi Long Khánh. Tối 20-4, quân địch ở Xuân Lộc rút chạy qua Bình Sơn - Long Thành về Biên Hòa. Cửa ngõ phía đông bắc Sài Gòn đã mở toang. 
 
Với khí thế xung trận thần tốc "một ngày bằng 20 năm", các đơn vị chủ lực ta nhanh chóng hình thành nhiều mũi áp sát, bao vây Sài Gòn từ các hướng. 
 
Trước tình thế nguy cấp, trước sức ép của Mỹ, ngày 21-4-1975, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu phải từ chức và sau đó chạy ra nước ngoài. Trần Văn Hương lên thay với hy vọng cứu vãn chế độ Sài Gòn đang đổ sụp. Tuy nhiên, đó là điều không tưởng. Bởi vào lúc này, không một sức mạnh nào, không một mưu đồ đàm phán nào có thể ngăn cản cuộc tiến công của quân và dân ta vào dinh lũy cuối cùng của chế độ Sài Gòn, giành toàn thắng. 
 
Sau thời gian chuẩn bị khẩn trương về mọi mặt, ngày 26-4-1975, Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử mở màn. Lực lượng tham gia đông và mạnh nhất từ trước tới nay, gồm 4 binh đoàn: Quyết Thắng, Hương Giang, Tây Nguyên, Cửu Long và Đoàn 232, tổng cộng là 15 sư đoàn, 2 lữ đoàn, 3 trung đoàn bộ binh. Pháo binh có 20 lữ đoàn, trung đoàn và tiểu đoàn. Có 3 lữ đoàn, trung đoàn và 6 tiểu đoàn xe tăng thiết giáp. Các đơn vị binh chủng như Phòng không, Công binh, Thông tin, Đặc công và cả Không quân, Hải quân. Ngoài ra, còn có lực lượng bộ đội địa phương, dân quân, du kích và nhân dân phối hợp tham gia chiến đấu. 
 
Chỉ trong vòng chưa đầy 2 tháng, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 đã giành toàn thắng. Hơn một triệu quân ngụy và bộ máy ngụy quyền Sài Gòn bị đánh tan và đổ sụp.
 
Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, mà đỉnh cao là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, với Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đã kết thúc thắng lợi vẻ vang sau 21 năm chiến đấu đầy gian khổ, hy sinh. Đất nước độc lập, thống nhất, non sông thu về một mối, nhân dân cả nước bắt tay cùng xây dựng cuộc sống mới. 
 
PV (Phim tư liệu, nguồn: Clip.vn)
http://baoquangngai.com.vn/channel/2104/201003/Phim-tai-lieu-Dai-thang-mua-xuan-1975-1935215/
,
Ý KIẾN BẠN ĐỌC (Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu. Chúng tôi có thể sẽ biên tập lại nội dung phản hồi của quý vị để phù hợp với tiêu chí chung của website)
,
,
,