Chuyện hỗ trợ dân của triều Nguyễn

10:12, 16/06/2021 [GMT+7]
.
(Báo Quảng Ngãi)- Từ xa xưa, người dân Quảng Ngãi nói riêng và cả nước nói chung đã nếm trải những đợt khô hạn “khắc cốt ghi tâm”. Giữa những năm tháng người dân khốn cùng, đói kém; triều đình nhà Nguyễn thời ấy đã tiến hành chẩn tế và giảm, hoãn thuế để tiếp sức cho người dân vượt qua những khó khăn do khô hạn gây ra.
Khô hạn triền miên
 
Theo sử liệu tại bộ Đại Nam thực lục, từ thế kỷ XVII - XIX, đất nước ta đã trải qua rất nhiều đợt khô hạn. Trong đó, có nhiều trận đại hạn khiến nhân dân rơi vào cảnh khốn cùng vì mùa màng thất thu, như trận đại hạn năm 1608, 1641, 1668, 1807, 1817, 1819, 1821, 1858, 1877... 
Từ xưa đến nay, nông dân Quảng Ngãi luôn gặp khó khăn trong việc tìm nguồn nước tưới trong mùa nắng.  Ảnh: Ý THU
Từ xưa đến nay, nông dân Quảng Ngãi luôn gặp khó khăn trong việc tìm nguồn nước tưới trong mùa nắng. Ảnh: Ý THU
Năm 1608, từ Nghệ An ra Bắc bị đại hạn, giá gạo đắt khiến dân xiêu dạt. Năm 1641, mùa hạ tháng 5, trời hạn, lúa khô héo, mỗi đấu gạo trị giá lên đến 60 đồng tiền, nhiều người dân chết vì đói. Năm 1791, trời lâu không mưa, giá gạo tăng vọt. Vua Gia Long lúc ấy phải cho quan dân cùng người Minh Hương và người Đường (Hoa Kiều) thông thương với Chân Bôn (đất nước Xiêm) để đong mua lúa gạo. Đợt khô hạn năm 1791 khốc liệt đến nỗi đã bước sang tháng 10, nhưng vẫn chưa hết hạn...
 
Tại Quảng Ngãi, nạn khô hạn diễn ra liên miên. Lần giở bộ Đại Nam thực lục và Minh Mệnh chính yếu, Quảng Ngãi, Quảng Nam, Bình Định, Phú Yên là các địa phương thường xảy ra khô hạn khốc liệt nhất trong cả nước. Năm 1686, dù vào tháng 2, nhưng nước sông Trà Khúc đã cạn khô. Liên tiếp các năm 1807, 1812, 1816, 1817, 1819, 1825... Quảng Ngãi luôn là địa phương nằm trong danh mục được triều đình xuống chiếu tha tô ruộng do khô hạn kéo dài, mùa màng kém cỏi. Năm 1877, từ tỉnh Quảng Nam trở vào Nam lại bị hạn lâu. Người dân hai tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi bị đói. Nhiều người phải dắt nhau qua đèo Hải Vân để kiếm ăn...
 
Ra sức chẩn tế
 
Trước tình cảnh người dân đói khổ vì nạn khô hạn, triều Nguyễn ngày ấy đã thi hành nhiều chính sách hỗ trợ nhân dân. Bộ Đại Nam thực lục có chép rằng, vào năm 1812, Vua Gia Long thấy các địa phương bị hạn lâu, liền xuống chiếu tha tô ruộng. Trong đó, bốn dinh trực lệ tha ba phần mười, Bình Định, Phú Yên tha bốn phần mười, các thành trấn khác tha hai phần mười. Tô ruộng năm tiếp theo đều tha hai phần mười. Năm 1816, vua Gia Long lại giảm thuế ruộng vụ mùa từ Nghệ An ra Bắc. Vua chiếu rằng: “Trị nước không gì bằng nuôi dân. Chính tốt trước phải ban ân huệ. Các địa phương mùa xuân này hiếm mưa, mùa màng kém cỏi, thuế vụ hạ đã được khoan giảm, nhưng gần đây việc nông chưa thỏa, dân bệnh chưa lành, lòng trẫm thực là thương xót. Vậy tha giảm thuế vụ đông này”.
 
Liền sau đó, vào năm 1817, khi nạn khô hạn vẫn chưa chấm dứt, vua Gia Long tiếp tục “thương lo” cho con dân. “Gần đây các địa phương ít mưa, thóc lúa kém thu, trẫm rất thương lo. Vậy tha giảm cho bốn dinh trực lệ năm phần mười tô ruộng, bốn phần mười thuế thân; Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên bốn phần mười tô ruộng, ba phần mười thuế thân”. Năm 1819, Quảng Ngãi và Quảng Nam tiếp tục hạn hán. Triều đình khi ấy lại giảm thuế ruộng cho Quảng Nam tám phần mười và Quảng Ngãi năm phần mười.
 
Không chỉ giảm, hoãn thuế cho dân, triều đình nhà Nguyễn ngày trước còn ra sức cứu tế để cùng nhân dân vượt qua khó khăn, đói kém. Về việc này, sách Minh Mệnh chính yếu viết rằng, vào năm Minh Mệnh thứ 13, tháng 3, từ Hà Tĩnh trở ra Bắc lâu ngày không mưa, giá gạo cao lên. Vua bảo Hộ bộ rằng: “Nếu điềm nhiên nhìn cảnh dân kêu đói, thì các kho tàng đầy ngập cũng không dùng làm gì. Nên truyền chỉ các quan tỉnh phát lúa kho ra, giảm giá bán cho dân. Nếu có người muốn vay, cũng cho”. Năm 1877, các tỉnh từ Quảng Ngãi trở vào Nam gặp khô hạn. Vua Tự Đức cho tải gạo ở Bắc Kỳ đem chứa ở 2 tỉnh Quảng Nam và Bình Định mỗi tỉnh 50.000 phương để cho đủ chu cấp. Mùa hạ năm 1878, biết 4 tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Thuận, Phú Yên gần đây lại ít mưa, vua Tự Đức lại sai Hộ bộ phải vận tải ngay tiền, gạo rồi chứa sẵn đấy để kịp cứu trợ cho dân...
 
Tuy coi việc nước như việc nhà, lo toan cho dân nhiều mặt, nhưng những nỗ lực của các vua triều Nguyễn xưa cũng chỉ có kết quả chừng mực. Nỗi thống khổ khi thủy lợi chưa phát triển, phải phụ thuộc phần nhiều vào thời tiết thời ấy, được dân gian lưu truyền lại bằng những câu vè như: “Kể từ Mậu Ngũ năm nay/ Trời sao lại khiến nắng hoài khô khan/ Nhân dân thiên hạ thở than/ Cùng nhau xúm xít, chẳng an năm này”...
 
Ý THU
 
 
 
.
.