Cập nhật lúc: 16:22, 02/08/2015 [GMT+7]
.

Bầu giác giúp cầm máu


Bầu giác thuộc họ cà phê, tên khác bồ giác, lấu bà, cây chạo, lá tản... là một cây nhỏ, cao 2-3m.

Bầu giác thuộc họ cà phê, tên khác bồ giác, lấu bà, cây chạo, lá tản... là một cây nhỏ, cao 2-3m. Cành non màu nâu đỏ, càng già màu xám sẫm. Lá mọc đối, quả hình cầu màu đỏ. Cây mọc tự nhiên. Nhiều bộ phận của cây bầu giác được dùng làm thuốc chữa bệnh theo kinh nghiệm dân gian...
 

 Cây bầu giác.
Cây bầu giác.


Rễ: đào về, rửa sạch, phơi hoặc sấy khô. Khi dùng, thái miếng mỏng để sống hoặc sao qua. Dược liệu có vị đắng, tính mát, không độc, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, khu phong trừ thấp, sinh cơ.

Chữa rối loạn tiêu hóa: rễ bầu giác 10g, sắc với 200ml nước còn 50ml nước, uống làm một lần trong ngày. Dùng 3-5 ngày.

Thân: tuốt bỏ lá, chặt ngắn, phơi khô, róc lấy vỏ để riêng. Vỏ thân bầu giác và vỏ cây vải mỗi thứ 30g, phơi khô, thái nhỏ, sắc uống chữa đau bụng, kiết lỵ ở phụ nữ sau đẻ.

Lá: chỉ dùng lá bánh tẻ để tươi hoặc phơi, sấy khô. Dược liệu có vị đắng chát, tính bình, không độc, có tác dụng thu sáp, chỉ tả, tiêu độc cầm máu.

Chữa tiêu chảy: lá bầu giác 2g, lá củ nâu hay lá sim 30g, sắc uống trong ngày. Dùng 3-5 ngày.

Chữa băng huyết sau sinh: lá bầu giác để tươi 20g, lá tiết dê 16g, lá huyết dụ 16g, giã nát, thêm nước, gạn uống.

Chữa tiểu tiện ra máu: lá bầu giác 16g, rễ cây ráng 12g, lá huyết dụ 12g, lá tiết dê 10g, ngũ bội tử 4g. Tất cả dùng tươi, rửa sạch, giã nát, thêm nước gạn uống, làm một lần trong ngày.

Chữa sốt rét: lá bầu giác 40g, lá na 40g, vỏ cây gòn 30g, lá thường sơn 20g. Tất cả thái nhỏ, phơi khô, sao vàng, hạ thổ. Sắc uống làm 2 lần trong ngày.

Dùng ngoài vỏ lá bầu giác 50g, sắc đặc lấy nước ngậm chữa đau răng, sâu răng. Lá bầu giác giã nát với rau răm và con nhái đắp chữa sâu quảng. Lá bầu giác 50g, một nửa để tươi nấu nước rửa, nửa còn lại phơi khô, tán bột mịn, rắc chữa chàm, mẩn ngứa, mụn lở chảy nước.
 

Theo DS. Huyền Hoa/SKĐS

 

.