Nhà văn Nguyễn Chí Trung: Độc nhất, độc bản

22:57, 28/05/2020 [GMT+7]
.
Thanh Thảo
 
(Baoquangngai.vn)- Tôi dám chắc, từ trước tới nay và mãi về sau, không thể tìm ra một người nào có thể nói là “từa tựa” nhà văn Nguyễn Chí Trung. Dĩ nhiên, “mỗi người là một người” như Văn Cao đã nói, nhưng có những người mà ta vẫn có thể xếp chung vào một đội ngũ nào đó, chí ít, chung một nhóm nhỏ nào đó. Vì họ hòa hợp và có những nét tương đồng với các thành viên khác. 
Nhà văn Nguyễn Chí Trung
Nhà văn Nguyễn Chí Trung
Riêng Nguyễn Chí Trung thì quả thật, không biết xếp ông vào đâu cho phải. Không thể xếp chung với bất cứ ai. Đây tôi không nói vì tài năng, vì cá tính, vì sự độc đáo hay gì cả, tôi chỉ nói: “Nhà văn Nguyễn Chí Trung là độc nhất, độc bản”. 
 
Ai cũng biết, ông Nguyễn Chí Trung tham gia cách mạng từ năm 1945, vào bộ đội ngay sau đó, và ở trong quân ngũ cho tới khi qua đời ở tuổi 87. Đó là một quân nhân toàn tòng, một người lính gần như suốt đời mặc áo lính. Cứ như thế, có thể nghĩ ông Nguyễn Chí Trung là một quân nhân mẫu mực, luôn tuân lệnh cấp trên.
 
Hóa ra, ông Trung mới nhìn thì như vậy, mà lại không phải vậy. Ông Trung đúng là đã đánh và thắng rất nhiều trận trong cuộc đời mình, nhưng ông không hề là người chỉ huy hay lính chính danh. Ông luôn giữ một “vai phụ” nào đó, có khi là phóng viên chiến trường, có khi là “báo cáo viên” hay “thanh sát mặt trận” gì đó, để rồi đột ngột, trong tình cảnh nguy nan của trận đánh, ông tự nhiên trở thành người chỉ huy trực tiếp, lao lên tuyến đầu, và như nhà thơ Thân Như Thơ, người từng đi mặt trận với ông Nguyễn Chí Trung, kể lại: “Trong trận Ba Gia năm 1965, khi đồng chí chỉ huy một mũi tấn công ngã xuống, Nguyễn Chí Trung lúc đó là phóng viên báo Quân Giải phóng Khu 5 đã đứng ra chỉ huy bộ đội tiếp tục đánh”.
 
“Một lúc khác, ông Trung trong trận Thượng Đức năm 1974, vào hồi căng thẳng quá, địch phản ứng quyết liệt, bộ đội không phát triển được, ông Nguyễn Chí Trung đã bò đến tiểu đoàn đầu cầu. Ông nghiên cứu trận địa và phát hiện ra: Sở dĩ địch khống chế ta vì có hai lỗ châu mai ở trước đồn địch rất kiên cố. B40 của ta không thể tiêu diệt được chúng. Ông bàn với đồng chí tiểu đoàn trưởng cho hai chiến sĩ bò lên, thảy lựu đạn vào lỗ châu mai. Khi họng súng của địch bị tắt, bộ đội ào lên…”.
 
Tôi nhắc lại vài chuyện tôi đọc được về ông Trung. Từ vai phụ ông đột ngột trở thành vai chính. Từ một chức danh ít ai để ý, ông đột ngột trở thành người quyết định một trận đánh. Đây không phải chuyện đổi vai trong kịch hay trong phim, mà trong những cuộc chiến đấu sinh tử. Đó là điều thật kỳ lạ.
 
Nhưng có chuyện này, tôi nghe từ bà con xóm Mù U ở Mộ Đức quê tôi kể lại, vào “Mùa hè đỏ lửa” của năm 1972 căng thẳng ấy, ông Nguyễn Chí Trung lại về xóm Mù U, nơi có một căn cứ quân Sài Gòn đóng trên đồi Ông Đọ. Căn cứ này chơi độc, bằng cách bắt dân làng vào ấp chiến lược ở bao chắn quanh căn cứ làm “lá chắn sống”, và họ gài mìn ở vòng rào kẽm gai phía ngoài.
 
Ông Nguyễn Chí Trung cả đời thân yêu dân, không sợ dân, nên ông kêu anh xã đội trưởng cùng ông bò vào căn cứ địch để trinh sát. Anh “xã đội” sợ, không dám bò trước. Ông bảo, cứ bò theo sau ông, thấy chỗ nào có phân người còn tươi thì bò qua, bảo đảm không có mìn. Đúng thế thật. Và ông dẫn anh xã đội bò vào tận sào huyệt địch để điều nghiên, chuẩn bị cho trận đánh của bộ đội sắp tới. 
 
Lần đó, cũng như bao lần khác, ông Nguyễn Chí Trung đến với trận đánh mà không hề có một chức danh gì rõ rệt. Ông lại là “phóng viên” hay “báo cáo viên” gì đó, nhưng trên thực địa, ông vừa là người lính trinh sát quả cảm vừa là người chỉ huy quyết đoán. Chẳng ai giao cho ông nhiệm vụ ấy, tự ông nghĩ ra, và tự ông làm.
 
Lần đầu tiên mới gặp tôi ở Sài Gòn những ngày đầu giải phóng, chẳng biết ông Trung nghĩ gì, nhưng ông có vẻ thích tôi. Là “anh em ngoài xã hội” gặp nhau chăng? Tôi không biết. Nhưng ông Trung, lúc ấy cùng nhà văn Nguyên Ngọc là hai lãnh đạo đoàn nhà văn miền Trung, đã âm thầm “chấm” tôi. Bằng cách cho tôi “bám càng” với đoàn trong chuyến lang thang từ Sài Gòn lên Đà Lạt, rồi xuống Phan Rang, ra Nha Trang, gặp Tuy Hòa, tới Qui Nhơn, để cuối cùng tôi được về quê mình Mộ Đức Quảng Ngãi, sau 21 năm xa cách. Đó là cái ơn đầu tiên ông Trung cho tôi, ơn dù nhỏ, nhưng tôi nhớ. Vì lúc đó tôi đang ở trong hoàn cảnh không thuận lợi lắm.
 
Khi tôi trở ra Hà Nội, đi an dưỡng, rồi lang thang cơ nhỡ, tôi cũng chưa một lần nghĩ hay là mình xin về Trại sáng tác Quân khu Năm của ông Trung xem sao. Có thể tôi không dám nghĩ đến, vì lúc đó mình chỉ là “nhà thơ chẻ (trẻ)”, chẳng biết người ta có nhận mình không? Nói vậy, chứ tôi cũng chả nghĩ gì, cứ bèo dạt mây trôi vậy thôi.
 
Thế mà vào lúc không biết mình sẽ “dạt vòm” về đâu, thì đột nhiên tôi nhận được công văn từ ông Nguyễn Chí Trung gửi Tổng cục chính trị xin tôi về Trại sáng tác quân khu Năm. Tôi cứ như chết đuối vớ được cọc, mừng hết lớn, vội thu dọn vài bộ quân phục với cái ba lô cũ, nhảy tàu về Đà Nẵng.
 
Tôi mang ơn ông Nguyễn Chí Trung vì cái công văn xin tôi về Trại, nếu không, tôi cứ lang thang ở Hà Nội, rồi không biết làm thế nào để có thể viết được cái trường ca ấp ủ từ trong chiến tranh, sau này mang tên “Những người đi tới biển”. Và nếu không có được trường ca ấy, cộng với tập thơ “Dấu chân qua trảng cỏ” viết ở chiến trường cũng được in ngay khi ở Trại quân khu Năm, thì làm sao tôi có được bao nhiêu tác phẩm sau này? Nói thật, ông Nguyễn Chí Trung đã cứu cho cả sự nghiệp sáng tác văn học của tôi. Đó là cái ơn không bao giờ tôi quên được. 
 
Nhớ có một lần tôi với nhà văn Thái Bá Lợi cùng ông Nguyễn Chí Trung đi công tác Tây Nguyên. Lúc về tới quê tôi Mộ Đức thì đã 9 giờ đêm. Ông Trung nói tôi dẫn ông về nhà thầy má tôi để ông thăm các cụ. Tôi vui lắm, dẫn thủ trưởng của mình về “ra mắt” thầy má tôi. Các cụ quá mừng, cứ chạy lăng xăng chỗ này chỗ khác, kiếm xem có gì đãi cho đoàn. Thầy tôi tìm được một buồng chuối mới chặt, chuối vừa chín bói. Thầy má tôi tặng ngay cho ông Nguyễn Chí Trung-thủ trưởng của tôi-để anh em mang về Đà Nẵng ăn lấy thảo. Ông Trung vác buồng chuối với vẻ tươi vui lắm. Từ nhà tôi ra đường cái quan, chỗ xe đỗ khoảng hơn hai trăm mét. Ông Trung không cho ai vác, tự ông vác buồng chuối được tặng ra xe. Chi tiết ấy, tôi bảo đảm không thủ trưởng nào có được. Chỉ một người lính suốt đời trận mạc mới có cách ứng xử đẹp đẽ này.
 
Nhà văn Nguyễn Chí Trung, như anh em nói “ở gần thì bực, đi xa lại nhớ”, nay đã đi xa trần thế khá nhiều năm rồi. Tôi là người sống chậm, nghĩ chậm, mà cuộc đời lại trôi qua nhanh. Mãi gần đây, tôi mới tự nhiên nghĩ ra, mình phải làm cái gì đó để tưởng nhớ người thủ trưởng mà tôi ít khi nghĩ là thủ trưởng, đúng hơn, tưởng nhớ người anh mà mình biết ơn và thương yêu. 
 
Cả cuộc đời ông Nguyễn Chí Trung hiến trọn cho đất nước, cho nhân dân. Ông không vợ không con, không gia đình. Năm nay, vào dịp giỗ ông Nguyễn Chí Trung, tôi xin phép được tổ chức một lễ giỗ nhỏ, giỗ vọng người mà tôi coi như anh ruột, ở ngay nhà tôi. May quá, ngày giỗ ông Trung chỉ cách ngày giỗ thầy tôi có 3 ngày. Lần này, tôi muốn được mời vài người bạn thân thiết vừa là đồng đội và là bạn văn với ông Trung, lại mời cháu Mai Anh-người thư ký tận tụy đã chăm sóc cho ông Trung như cho ông ngoại mình những năm tháng cực nhọc cuối đời.
 
Tôi luôn nghĩ chậm, quyết định chậm, mà cuộc đời lại trôi nhanh. Xin những người được tôi mời hãy giúp tôi, tụ về cùng nhau trong ngày tưởng nhớ một con người . Không phải theo kiểu quảng cáo có “102” của mỳ ăn liền, mà như tình anh em thân thiết vì đã yêu thương một con người “độc nhất, độc bản”./.  
 
.
.