Cập nhật lúc: 13:37, 14/12/2015 [GMT+7]
.

"Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài"


(Báo Quảng Ngãi)- “Thiện căn ở tại lòng ta/ Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”. Hai câu thơ trích trong đoạn cuối Truyện Kiều đã khái quát hầu như toàn bộ sự nghiệp, tâm hồn, nhân cách của Nguyễn Du, một con người luôn luôn vì chữ Tâm. Đại thi hào Nguyễn Du (1765-1820) đã để lại cho đời tác phẩm bất hủ Truyện Kiều, kiệt tác văn chương không chỉ của Việt Nam mà cả thế giới. Ông đã được UNESSCO vinh danh là Danh nhân văn hóa thế giới vào tháng 10.2013.

Tầm vóc của một dòng họ

Tôi đã đọc Truyện Kiều nhiều lần, biết về Nguyễn Du qua sách vở, tư liệu lịch sử. Nhưng sau khi đến thăm Khu di tích Nguyễn Du- di tích quốc gia đặc biệt, ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân (Hà Tĩnh) tôi mới cảm nhận và hiểu rõ hơn về thân thế, sự nghiệp của Đại thi hào Nguyễn Du. Chính truyền thống tốt đẹp của gia đình, dòng tộc đã hun đúc nên tâm hồn, nhân cách của ông.

Khu lưu niệm Đại thi hào Nguyễn Du tại huyện Nghi Xuân (Hà Tĩnh).
Khu lưu niệm Đại thi hào Nguyễn Du tại huyện Nghi Xuân (Hà Tĩnh).


Dòng họ của Nguyễn Du chính là họ Nguyễn Tiên Điền (họ Nguyễn ở làng Tiên Điền) nổi tiếng với câu ca dao: “Bao giờ ngàn Hống hết cây/ Sông Rum hết nước, họ này hết quan”. Dẫn chúng tôi tham quan khuôn viên gia tộc dòng họ Nguyễn Tiên Điền (rộng 3ha), hướng dẫn viên của Khu di tích Nguyễn Du đã kể cho chúng tôi nghe về truyền thống tốt đẹp của dòng họ này. Thủy tổ dòng họ Nguyễn đã xây dựng khuôn viên gia tộc vào thế kỷ XVI, trải qua rất nhiều đời sinh sống ở đây.
 

“Nguyễn Du là nhà thơ thiên tài của dân tộc Việt Nam với tầm vóc và vị thế khó ai sánh nổi. Tên tuổi và sự nghiệp của ông, đặc biệt là tác phẩm Truyện Kiều- đỉnh cao của nền văn học cổ điển nước nhà đã góp phần đưa văn học Việt Nam vượt ra khỏi bờ cõi quốc gia, trở thành một phần của tinh hoa văn hóa nhân loại, ghi dấu ấn của văn học Việt Nam trên thi đàn quốc tế...”, trích phát biểu của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng tại Lễ kỷ niệm 250 năm ngày sinh Đại thi hào Nguyễn Du- Danh nhân văn hóa thế giới, do Bộ VH-TT&DL phối hợp với tỉnh Hà Tĩnh long trọng tổ chức (cấp quốc gia) tại Quảng trường trung tâm TP. Hà Tĩnh vào tối 5.12.2015.

Dòng họ Nguyễn Tiên Điền đời thứ 5 mới có nhiều người đỗ đạt làm quan. Ông Nguyễn Quỳnh, ông nội Nguyễn Du có 5 người vợ và 10 người con (6 trai, 4 gái). Ông cũng là người giỏi chữ, hay đọc sách, tinh thông lý số, giỏi về kinh dịch. Ba trong 6 người con trai của ông Nguyễn Quỳnh học rộng, đỗ đạt cao là Nguyễn Huệ (bác Nguyễn Du) đậu tiến sĩ năm 1733; Nguyễn Nghiễm (cha Nguyễn Du) đậu tiến sĩ 1731 và ông Nguyễn Trọng (chú Nguyễn Du) đậu cử nhân thời Cảnh Hưng năm 1732. Thời bấy giờ, trong gia đình có đến ba người con trai đỗ đạt cao như vậy là rất hiếm. Trong ba người con trai này thì ông Nguyễn Nghiễm là người thành đạt nhất. Chính ông và người con trai đầu là Nguyễn Khản từng làm quan tể tướng đứng đầu triều đình Nguyễn-Trịnh, đã đưa dòng họ Nguyễn trở thành dòng họ danh giá nhất ở Việt Nam vào thế kỷ XVIII. Ông Nguyễn Nghiễm có đến 8 người vợ và sinh 21 người con. Đặc biệt trong số ấy có một người đã làm dòng họ Nguyễn Tiên Điền lưu danh đến muôn đời. Đó là Đại thi hào Nguyễn Du.

Chân dung Đại thi hào

Nguyễn Du tên chữ là Tố Như, gọi là Thanh Hiên, sinh năm 1765 tại phường Bích Câu, Thăng Long (Hà Nội).

Thời thơ ấu, Nguyễn Du sống trong nhung lụa, nhưng lên 10 tuổi lần lượt mồ côi cả cha lẫn mẹ và sống nhờ Nguyễn Khản, là anh cùng cha khác mẹ làm Thừa tướng phủ chúa Trịnh. Nhờ sự nuôi dạy của Nguyễn Khản, năm 19 tuổi Nguyễn Du thi đỗ tam trường ở trấn Sơn Nam. Năm 21 tuổi, ông được cử giữ chức Chánh phủ hiệu Thái Nguyên. Chẳng bao lâu nhà Lê sụp đổ (1789), Nguyễn Du lánh về quê vợ ở Thái Bình, rồi người vợ đầu và người con trai lớn mất, ông cùng người con trai còn lại trở về quê cha đất tổ Tiên Điền. Hơn mười năm chìm nổi long đong ngoài đất Bắc, Nguyễn Du sống gần gũi nhân dân và thấm thía biết bao nỗi ấm lạnh của kiếp người. Nỗi bất hạnh lớn trong cuộc đời đã phần nào hun đúc nên thiên tài Nguyễn Du. Trong 6 năm về sống ở quê nhà (1796-1802), cùng với việc săn bắn, để khuây khỏa nỗi buồn, Nguyễn Du sáng tác thơ văn và để lại dấu ấn sâu đậm nhất là tác phẩm Truyện Kiều bất hủ.

Chữ “Tâm”cùng một bộ án thư được trưng bày tại Khu lưu niệm Nguyễn Du.       Ảnh: P.DANH
Chữ “Tâm”cùng một bộ án thư được trưng bày tại Khu lưu niệm Nguyễn Du. Ảnh: P.DANH


Sinh thời, Nguyễn Du từng băn khoăn, ray rứt hỏi hậu thế rằng: “Bất tri tam bách dư niên hậu/ Thiên hạ thùy nhân khấp Tố Như” (có nghĩa là Ba trăm năm nữa, ta đâu biết thiên hạ, ai người khóc Tố Như). Nhưng chưa đến 300 năm, mà mọi người dân Việt Nam và cả nhân loại đều đã biết đến Tố Như - một Đại thi hào, Danh nhân văn hóa thế giới. Và nhà thơ Tố Hữu đã có những vần thơ hết sức tâm huyết về Nguyễn Du: “Tiếng thơ ai động đất trời/ Nghe như non nước vọng lời ngàn thu/ Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du/ Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày”.

Trong số những sáng tác của mình, Nguyễn Du đã để lại tác phẩm bất hủ Đoạn trường tân thanh (tức Truyện Kiều). Truyện Kiều gồm 3.254 câu thơ theo thể lục bát. Tác phẩm tiêu biểu này đã vượt ra khỏi không gian Việt Nam, được các dịch giả nước ngoài dịch ra nhiều thứ tiếng khác nhau như: Anh, Pháp, Đức, Nhật, Nga, Tây Ban Nha, Hungary, Tiệp Khắc, Hàn Quốc.

Từ khi ra đời, Truyện Kiều đã trở nên gần gũi với mọi người dân Việt Nam. Người ta không chỉ đọc Truyện Kiều mà còn thể hiện Kiều qua nhiều hình thức sinh hoạt khác nhau như ngâm kiều, bình kiều, vịnh kiều, lẩy kiều. Ngay cả Bác Hồ, khi nói, viết cũng từng mô phỏng Kiều. Chẳng hạn sau 50 năm trở về quê nhà, gặp gỡ bà con hàng xóm, Bác xúc động đọc: “Quê hương nghĩa trọng tình cao/ Năm mươi năm ấy biết bao nhiêu tình”. Hay là khi giao tiếp với bạn bè quốc tế, Hồ Chủ tịch cũng mô phỏng Kiều: “Quan san muôn dặm một nhà/ Bốn phương vô sản đều là anh em”. Còn trong bài thơ “Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng”, Chế Lan Viên đã viết: “Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc/ Nguyễn Du viết Kiều đất nước hóa thành văn”...

Khu di tích quốc gia đặc biệt

Khu di tích Nguyễn Du là một quần thể bao gồm nhiều hạng mục liên quan đến cuộc đời, sự nghiệp Đại thi hào Nguyễn Du và họ Nguyễn Tiên Điền; hằng năm đã thu hút, đón tiếp và làm rung động hàng vạn du khách trong nước và quốc tế đến tham quan, học tập, nghiên cứu.

Du khách tham quan Đàn tế và bia đá Nguyễn Quỳnh trong Khu di tích Nguyễn Du. Ảnh: PV
Du khách tham quan Đàn tế và bia đá Nguyễn Quỳnh trong Khu di tích Nguyễn Du. Ảnh: PV


Trong khu di tích có Nhà thờ Nguyễn Du, được kết cấu theo lối chữ Đinh, giữa có 4 chữ: Địa-linh-nhân-kiệt và hai câu đối ở cột quyết. Một câu của nhà vua, một câu của cụ Nguyễn Mai (cháu đời thứ 10) đề tặng. Câu của vua Minh Mạng là: “Nhất đại tài hoa sứ vi khanh sinh bất thiển/Bách niên sự nghiệp tại gia tại quốc tử so vinh” (nghĩa là: Một đời tài hoa, lúc đi sứ, lúc làm quan sống không hổ thẹn/ Trăm năm sự nghiệp việc nhà, việc nước, chết vẫn còn vinh).

Trong quần thể khu di tích còn có nhà Tư Văn, Đàn tế và bia đá Nguyễn Quỳnh (do Nguyễn Nghiễm sau khi nhận chức Tể tướng được 4 tháng cùng em là Nguyễn Trọng  tổ chức dựng bia). Còn với phần mộ Nguyễn Du, trước đây cũng giống như bao ngôi mộ khác, như trong tác phẩm Truyện Kiều: “Sè sè nắm đất bên đường/ Dầu dầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh”. Cho đến năm 1965, Giáo sư Đặng Thai Mai đã làm bia mộ cho cụ Nguyễn Du, mang từ Hà Nội vào và khắc 8 chữ: Tiên Điền Nguyễn Du tiên sinh phần mộ.

Ngoài ra còn có các di tích như: Vườn cũ của Đại thi hào Nguyễn Du; Đền thờ Nguyễn Nghiễm; Mộ Nguyễn Nghiễm; Mộ và Đền thờ Nguyễn Trọng; Khu lăng Văn Sự và Bảo tàng Nguyễn Du (trưng bày gần 1.000 tài liệu, hiện vật liên quan đến cuộc đời, sự nghiệp của Đại thi hào Nguyễn Du và dòng họ Nguyễn Tiên Điền). Khu lưu niệm Đại thi hào Nguyễn Du được Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định công nhận là Di tích quốc gia đặc biệt vào tháng 9.2012.
 

Bài, ảnh: PHẠM DANH


 

.
.