Cập nhật lúc: 13:54, 01/05/2014 [GMT+7]
.

Ký ức đồng chiêm


(Báo Quảng Ngãi)- Mẹ tôi khẽ cựa mình. Ngoài kia, lúa đang thì con gái. Cây lúa vẫn thơm thảo như xưa, vẫn thoang thoảng hương đồng quyện cùng hương đất đồng chiêm đặc trưng mà ai đó chưa từng ngụp lặn, không dễ gì cảm nhận được...

Mỗi năm tôi lại đôi ba lần về thăm Làng Cầu vùng chiêm trũng. Nơi ấy tuổi thơ tôi đầy ắp tiếng ru hời, vời vợi xa xăm những cánh cò chớp trắng chiều nhạt nắng. Có thể gọi là hoài niệm, là hồn quê chăng, bởi một thời đã là hành trang của lớp lớp trai trẻ châu thổ Sông Hồng, theo bước cha anh, băng tới Cửu Long mênh mang nỗi nhớ và chất chồng khát vọng.

Cứ mỗi lần về, mặc dù được cho là thông thuộc đường như ma xó, nhưng tôi cũng cứ lạc bước trên chính quê mình. Mỗi lần gặp lại thấy cái mới xuất hiện và những dấu tích xưa cũ cứ thưa thớt dần đi. Còn đâu nữa những con đường đất lầy trơn nhẫy khi mưa dầm giêng hai sùi sụt. Hệ thống đường nhựa liên xóm, đường bê tông liên gia nối mạng xương cá lan toả khắp xóm thôn, để rồi thỉnh thoảng lại thấp thoáng bóng ô tô, xe máy rù rì trườn tới. Mái đình, cây đa đã vĩnh viễn vào ký ức.

Màu xanh của lúa, của tre, cứ hẹp mỏng dần đi, nhường chỗ cho những ngôi nhà xây mới, tường xây mới, cắm móng từ tận lòng ao sâu vươn lên ngang đầu người, thành những ô nhỏ, bí bách, chật hẹp. Còn đâu không gian khoáng đạt tiếng võng gai kẽo kẹt đến nao lòng của người mẹ trẻ “Chàng ơi cho thiếp theo cùng/ Đói no thiếp chịu lạnh lùng thiếp cam...”. Còn đâu những chiếc gàu dai bền bỉ tháng ngày, khi hệ thống thủy lợi đã phủ khắp đồng ruộng, khiến ai đó đành múc ánh trăng vàng đổ vào ký ức.

 

Mùa vàng.                                      Ảnh: Tấn Phát
Mùa vàng. Ảnh: Tấn Phát


Mảnh đất ấy, không lớn thêm một tấc, nhưng số người tăng đã gấp đôi, gấp ba. Có điều trước đây “tứ thời bát tiết” đói, nay không lo đói nữa, nhưng cái nghèo vẫn còn đeo bám, mà lối thoát nghèo xem ra còn xa ngái. Công trình điện, đường, trường, trạm thành công thời gian qua, đã tạo cơ sở thuận lợi cho xây dựng nông thôn mới. Những mảnh ruộng nhỏ bé như “chiếc chiếu chèo” giữa đình làng xưa, sẽ chuyển mình ra sao trước vấn đề nông thôn, nông nghiệp và nông dân trong giai đoạn hiện tại?

Người dân quê lúa đâu có cam chịu. Nhưng để bứt phá đi lên còn chưa có điểm tựa, đành tạm bằng lòng còng lưng dệt chiếu những lúc nông nhàn, kiếm ngày dăm ba ngàn đồng để mà suy ngẫm, để dệt tính kiên trì bền bỉ, dù ở họ vốn đã có thừa. Ánh mắt những cô gái, chàng trai mười tám, đôi mươi lanh lợi kia bỏ học từ lớp 10 và thậm chí tốt nghiệp lớp 12 cũng đành ở nhà, qua lũy tre làng dõi xa đến ngút tầm mắt, mộng mơ chốc lát, để rồi lại quay về thực tại, lo chuyện chồng con thường tình. Có phải ai cũng học giỏi, cũng trúng tuyển, cũng có tiền để học thành tài, làm công chức, viên chức tương lai đâu. Vậy thì, tuyệt đại đa số thanh niên nông thôn khó, rất khó có sự lựa chọn nào khác cho mình. Mà bức xúc đó, ở tầm chiến lược Quốc gia cũng đang cấp thiết và nan giải.

Ông bác họ tôi đã vào bậc đại thọ. Thời chống Mỹ là Bí thư đảng uỷ kiêm chủ tịch hội đồng nghĩa vụ quân sự xã, khi trao cho tôi giấy gọi nhập ngũ, rơm rớm nước mắt mà rằng “Mong cháu đi may mắn, trưởng thành và sớm trở về”. Tôi là số ít ỏi trong đám trai làng còn may mắn về lại vùng chiêm trũng. Gặp lại, với tâm huyết của người đảng viên 60 tuổi Đảng, bác giãi bày về những điều bức xúc tại quê. Bởi cũng có “con sâu làm rầu nồi canh”, có những sai lầm vấp váp tất nhiên của quá trình đi lên của xã hội. Truyền thống “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người” thời chống Mỹ lại một lần nữa sáng tỏ trong xây dựng nông thôn mới. Lợi ích của quê hương, của dân tộc là trên hết. Đất quê hẹp, nhưng lòng người không hẹp. Không hẹp cả trong chuyện tha thứ những sai lầm, khuyết điểm của một số ít cán bộ, đảng viên thoái hoá biến chất.

Cơ chế khoán 10, khoán 100 có sức mạnh kỳ diệu làm thay đổi nhanh chóng bộ mặt nông thôn. Làng quê không còn nhà lá nữa. Ngay cả những bãi tha ma hiu hắt xưa cũng khác, đã bê tông, xây ốp lát to nhỏ, cao thấp tuỳ theo khả năng của từng dòng họ, từng gia đình. Tư duy người dân đã chuyển từ ăn no mặc ấm sang ăn ngon mặc đẹp. Đã chú trọng đời sống vật chất cùng với chăm lo đời sống tinh thần, tâm linh. Điện về nông thôn, thông tin cập nhật đến từng căn nhà dường như làm ngắn đi những con ngõ ngoằn ngoèo truyền thống, những tường rào bao quanh để bỗng chốc gần nhà thành xa ngõ.

Một cô bạn học thuở xưa bộc bạch: Đóng góp của bà con dù có đến hàng chục khoản chi phí trên một định suất 2 sào ruộng dân cũng chịu được, nếu không có tiêu cực, thất thoát, nếu như không có một vài chức sắc nho nhỏ bỗng chốc giàu lên bất thường. Có điều là - bạn nắm tay tôi chia sẻ thân tình - suy cho cùng cũng đều là một ông tổ đẻ ra cả, là anh em, đấu tranh cho rõ thiệt hơn, phải trái. Đánh kẻ chạy đi, chứ ai đánh kẻ chạy lại. Tình làng, nghĩa xóm bao dung là vậy.


Hơn 40 năm xa quê, đến cuối cuộc đời mới có được một lần về nuôi mẹ ốm. Trong khi vật vã với bệnh tật, mẹ thều thào: “Mẹ đi cũng chẳng hối tiếc gì, bởi đã có các con là cuộc đời nối dài tốt đẹp của bố, mẹ”. Ít bữa sau, khi đã qua cơn bạo bệnh, mẹ tôi bảo: Mẹ muốn sống thêm vài năm nữa để được hưởng cuộc sống ấm no, sung sướng mà cả cuộc đời nông dân lầm lũi mơ ước. Đời các cụ là vạch nối từ kiếp nô lệ, lầm than, đến thế hệ hôm nay được hưởng ấm no hạnh phúc, khi đã có bến bờ độc lập.

Chợt có ai đó hát khẽ một làn điệu chèo, điệu Đào liễu. Tôi cứ băn khoăn không biết có được bao nhiêu phần trăm nam thanh, nữ tú thích chèo, còn biết hát chèo? Và chính tôi, lại giật mình vì cái “bệnh báo cáo”, quy về phần trăm! Không, không phải ở đâu, sự việc gì quy về phần trăm so sánh cũng là khoa học. Có những sự việc, như nguồn mạch dân ca chẳng hạn, không ồn ào, được chắt lọc cùng dòng chảy thời gian vẫn trường tồn. Phải chăng đó là thuộc tính riêng có ở mảnh đất chiêm trũng vùng châu thổ?

Mẹ tôi khẽ cựa mình. Ngoài kia lúa đang thì con gái. Cây lúa vẫn thơm thảo như xưa, vẫn thoang thoảng hương đồng, chen cùng hương đất đồng chiêm đặc trưng, mà ai đó chưa từng ngụp lặn không dễ gì cảm nhận được. Có tiếng rao “Ai xát gạo không?”, một giàn máy xay cơ động - một trong số các loại hình dịch vụ phổ biến ở nông thôn hiện nay. Bất giác tôi đưa mắt tìm về dãy nhà ngang xưa, nơi hiện hữu vật chứng một thời. Chiếc cối giã gạo mòn gót mẹ nay còn đâu!
                              
   Văn  Phong

 
.