Tết Ố Karê của đồng bào Ca Dong

Thứ Hai, 22:32, 15/02/2010 [GMT+7]
.

(QNĐT) - Hàng năm, khi mùa đông lùi dần, tiết trời dần trở nên ấm áp báo hiệu mùa xuân lại về, lúa trên rẫy đã thu họach xong, phơi khô và đưa hết vào kho, người Ca Dong lại cùng nhau chuẩn bị ăn tết Ố Karế, đón mừng năm mới.

Người Ca Dong là một nhánh địa phương của dân tộc Xơ Đăng, địa bàn cư trú phân bố chủ yếu ở các huyện Sơn Tây, Sơn Hà (Quảng Ngãi), Sa Thầy, Kon Plông (Kon Tum), Nam Trà My, Bắc Trà My (Quảng Nam). Đồng bào sinh sống chủ yếu bằng nương rẫy, săn bắt, hái lượm, có nghề dệt thổ cẩm với nhiều mô típ hoa văn trang trí rất đẹp và độc đáo, nhưng nay hầu như đã thất truyền.
 
Thiếu nữ Cà Dong trong ngày hội.
Thiếu nữ Cà Dong trong ngày hội.
Nghề rèn cổ truyền Ca Dong khá phát triển với kỷ thuật nung quặng cục, quặng cát thành thép thỏi để rèn công cụ sản xuất và săn bắn. Ngoài những đặc điểm chung về văn hóa của dân tộc Xơ Đăng, người Ca Dong có một số nét riêng biệt về ăn ở, phong tục - tập quán, lễ hội, ma chay, nghi lễ trong nông nghiệp...

 Đơn vị cư trú cơ bản của tộc người Ca Dong gọi là plây (làng) hay plây pla (làng xóm). Lớn hơn đơn vị làng xóm gọi là gung (vùng), gồm nhiều plây hợp lại.

Plây có ranh giới (bơla) nhất định, có thể là dãy núi, con suối, hay một khu rừng và bao gồm một khu dân cư tập trung với những nóc nhà (nhe) gắn với những kho thóc của các hộ gia đình. Plây có chung một máng nước để uống, chung một nghĩa địa gọi là rừng ma (ha năng), chung một khu ruộng rẫy canh tác, một vùng rừng, một đoạn sông, suối chảy qua. Trong một plây của người Ca Dong, các ngôi nhà sàn cùng quay về một hướng đón gió, hài hòa với thiên nhiên, tạo thành một vùng sinh cảnh giàu vẻ mỹ quan.
 
Giã gạo chuẩn bị ăn tết Ố karế.
Giã gạo chuẩn bị ăn tết Ố Karế.
 
Hàng năm, khi mùa đông lùi dần, tiết trời dần trở nên ấm áp báo hiệu mùa xuân lại về, lúa trên rẫy đã thu họach xong, phơi khô và đưa hết vào kho, người Ca Dong lại cùng nhau chuẩn bị ăn tết Ố Karế, đón mừng năm mới. Thời gian ăn tết của mỗi plây không trùng nhau, nhưng nằm trong khoảng từ cuối tháng 12 đến đầu tháng giêng âm lịch. Người Ca Dong tin rằng đâu đâu quanh họ cũng có những vị thần (Yàng) như: Thần lửa (Yàng Pui), Thần núi (Yàng Kong), Thần Lúa (Mó Pế), Thần Đất (Kará Tơní), Thần Mặt Trời (Kará Mặt hy), Thần Nước (Kará Mo huýt)... Họ tin rằng chính các vị thần này đã phù trợ, chở che, đùm bọc họ vượt qua mọi hiểm nguy, hoạn nạn, nghèo đói, bệnh tật để người tồn tại và phát triển giống nòi.

Tết Ố Karế là dịp dâng cúng để tạ ơn các vị thần, cầu xin một năm mới an lành, hạnh phúc, mùa màng bội thu. Đây cũng là dịp các thành viên trong mỗi gia đình và cả cộng đồng được ăn uống, nhảy múa, vui chơi sau một mùa nương rẫy gian lao, khó nhọc.

Chuẩn bị ăn tết, người ta nuôi sẵn heo gà, làm cá khô, thịt khô, ủ rượu cần, lên rừng săn chuột, sóc, xuống suối bắt ốc, hái rau rừng...; đàn bà, con gái giã gạo lúa mới, làm bánh; đàn ông dựng nêu, sửa nhà.

 Nghi thức mang tính cộng đồng và khởi đầu cho tết Ố Karế là dựng cây nêu, làm lễ cúng máng nước (tà reo Yá Co), cầu mong một năm mới no đủ, yên bình. Máng nước tượng trưng cho sự sinh tồn của cộng đồng làng. Cúng máng nước là một hình thức cố kết các giềng mối, quan hệ, thể hiện sinh động ở việc cả làng góp lễ vật đến cúng và ăn chung ở máng nước, sau đó mới trở về tổ chức cúng bái, ăn uống theo từng nhà.

Người có uy tín nhất trong làng đứng ra làm chủ lễ. Lời khấn của ông cầu xin  cho người già, người trẻ, con gái, con trai trong cả làng được khoẻ mạnh, cây lúa trên rẫy nhiều hạt, con heo, con gà sinh nở đầy đàn.

Trong giờ khắc thiêng liêng, chủ làng mời mọi người đến cùng chạm tay vào cây nêu, vừa thể hiện sự tôn kính đối với thần nước, vừa thể hiện ý chí gắn bó, kết đoàn, sẵn sàng cùng nhau vượt qua gian khó. Chủ làng lại đem một con gà đến cúng Yá Co, cắt tiết gà cho chảy vào máng nước. Những người phụ nữ là chủ của mỗi gia đình dùng ống tre hứng lấy, đem về nấu bánh thiêng.

Ở mỗi nhà, nghi thức quan trọng nhất là lễ cúng bánh thiêng và chia bánh cho các thành viên trong gia đình. Từ sáng sớm, người phụ nữ chủ nhà mang gùi lên rẫy để lấy lúa thiêng đem về gói bánh. Lúa thiêng được gieo trên một mảnh đất nhỏ gọi là pađăm, trong rẫy riêng của gia đình. Bánh thiêng lớn bằng ngón chân cái, một đầu nhọn, gói bằng lá đót, có nhân làm bằng thịt chim hoặc thịt chuột. Khi mang lúa thiêng từ rẫy về, người phụ nữ cũng mang theo một khúc gỗ để nấu bánh mà không dùng củi có sẵn ở chòi củi gia đình. Nhà có bao nhiêu thành viên thì người ta gói bấy nhiêu chiếc bánh. Bánh đã nấu chín thì đem làm lễ dâng cúng thần linh, tổ tiên.

Cúng xong, bà chia cho mỗi người một chiếc. Mọi người ngồi quanh cây cột thiêng, cạnh bếp lửa, cùng ăn bánh trong không khí đầm ấm, chan hòa tình cảm yêu thương. Sau lễ cúng bánh thiêng, cả gia đình lo thịt heo, thịt gà, nấu bánh tét và làm các món ăn khác để tiệc tùng, đãi khách.

 Ngày Tết tiếp theo, bắt đầu bằng lễ cúng ở nhà chủ làng, sau đó lần lượt mới đến các gia đình trong plây. Theo phong tục của người Ca Dong, các nóc nhà trong một plây phải ăn Tết cùng một ngày đã được định sẵn. Họ hàng, bà con ở plây khác khi được mời đến ăn Tết cùng gia chủ, thường mang thêm ít rượu, gạo nếp, thịt, cá khô... để vui cùng gia đình. Tất cả đều sống trong không khí vui tươi, nhộn nhịp.

Sáng sớm, khi mặt trời phía đằng đông vừa chồm qua sườn núi, ánh nắng bắt đầu chạm lên phiến lá đầu làng, người ta trịnh trọng dọn một mâm cúng gồm: một chén rưọu, một gói bánh bằng lá dong, một ống xôi nướng trong ống tre, bốn bát cơm mới, một con chuột, một con sóc nướng, một con cá nước, một đĩa trầu cau cùng một bát than hồng để đốt trầm.
 
Nụ cười Cà Dong
Nụ cười Cà Dong!
Ngoài những thực phẩm nầy, tục lệ của người Ca Dong nghiêm cấm dùng các loại thịt khác để dâng cúng. Đặc biệt, trên bốn bát cơm mới, đều cắm bốn đôi đũa và bốn lá răm chăm , một loại lá rừng rất được người Ca Dong ưa thích. Người chủ lễ mặc trang phục truyền thống của người Ca Dong, trên đầu cài một chiếc lá răm chăm.. Ông ta khấn vái và mời các thần, ông bà, tổ tiên trên về dự lễ và ăn tết với cả nhà. Một con gà trống và một con heo còn sống được đặt lên mâm cúng, khấn xong rồi mới đem mổ thịt.

Sau khi đã mổ thịt, lòng gà, lòng heo được luộc chín bày lên giữa mâm, phần thịt sống và đầu heo, đầu gà cùng được đặt lên mâm cúng. Trong khi đang cúng, dân làng kéo đến càng đông cùng ăn Tết, nhà đó càng mừng vì coi đây là một năm may mắn và hạnh phúc. Họ cùng ăn uống, mời rượu no say, hỏi thăm sức khoẻ, công việc nương rẫy... trong sự đùm bọc, yêu thương của mọi người.

Ngày trước lễ hội Ố karế kéo dài cả tuần. Trong tết có tục “nhảy co” nhảy múa xung quanh bếp lửa, gần chổ thờ cúng tổ tiên, tung vãi cơm nếp đun trong ống nứa. Khi chiêng trống nổi lên, mọi người ca hát, reo hò, cầu năm mới mùa màng tốt tươi, lúa bắp đầy kho. Ngày nay, đồng bào ăn tết chỉ trong 3 ngày, tuy nhiên do mỗi plây có một ngày ăn tết riêng trong khung khê ning noong (mùa nhàn việc, lễ hội) nên không khí vui tươi hội hè ở vùng Ca Dong kéo dài, từ làng nầy sang làng khác, men say hội hè lan tỏa khắp núi rừng.
                                                                                    
Bài và ảnh: Lê Hồng Khánh
.