Cư dân Chăm và văn hoá Chăm trên đất Quảng Ngãi

Thứ Tư, 09:40, 02/09/2009 [GMT+7]
.

(QNĐT)- Sự  tồn tại của Văn hóa Sa Huỳnh  và sự biến mất của cư dân Sa Huỳnh tiếp liền sau giai đoạn rực rỡ của văn hóa Sa Huỳnh sắt sớm, vào khoảng nửa cuối của thiên niên kỷ thứ I trước công nguyên, tiếc thay đã không để lại dấu vết rõ rệt trong  sử liệu Trung Hoa và Việt Nam thời cổ trung đại. 
 
Một đoạn Thành Chăm Châu Sa (TK XI – XIII); xã Tịnh Châu, huyện Sơn Tịnh
Một đoạn Thành Chăm Châu Sa (TK XI – XIII); xã Tịnh Châu, huyện Sơn Tịnh
Người ta chỉ có thể biết được rằng, vào thời kỳ Tần - Hán, cũng như các bộ của quốc gia Âu - Lạc ở phía Bắc (nay là Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ), vùng đất phía nam đèo Ngang đã lệ thuộc sự cai trị của phong kiến Trung Hoa, ít ra là trên danh nghĩa. 
 
Thư tịch cổ Trung Quốc và những khám phá gần đây cho biết vào thời kỳ An Dương Vương làm vua nước Âu Lạc thì ở Trung Hoa Tần Thủy Hoàng đã thiết lập đế chế Tần. Năm 214 trước CN, Tần Thủy Hoàng đưa quân đánh chiếm vùng đất của các tộc Bách Việt (gồm hầu hết miền Giang Nam và Lĩnh Nam Trung Quốc), lập ra các quận Nam Hải (Quảng Ðông - Trung Quốc), Quế Lâm (Quảng Tây - Trung Quốc) và Tượng Quận (Bắc Việt và Bắc Trung Việt - thuộc địa bàn nước Văn Lang - Âu Lạc). 
 
Vùng đất phía Nam, từ đèo Ngang (Hoành Sơn) vào đến Quảng Nam, Quảng Ngãi ngày nay trên danh nghĩa đã trở thành một bộ phận của Tượng Quận thuộc đế chế Tần; nhưng cũng như Tượng Quận, nhà Tần chưa thiết lập được bộ máy cai trị và cũng chưa hề đưa quân đến vùng đất này.(1)
 
Nhà  Tần suy yếu, Triệu Ðà - một viên quan uý quận Nam Hải, nổi lên tự lập, đem quân lấy nước Âu Lạc, lập ra nước Nam Việt (206 trước CN). Năm 111 trước CN, nhà Hán sai Lộ Bát Ðức sang đánh Triệu Ðà, lấy nước Nam Việt rồi cải là Giao Chỉ bộ và chia làm 9 quận (Nam Hải, Thượng Ngô, Uất Lâm, Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Châu Nhai, Ðạm Nhỉ), trong đó Giao Chỉ và Cửu Chân là vùng đất từ Bắc Việt đến Hoành Sơn; Nhật Nam là vùng đất từ Hoành Sơn đến núi Ðại Lãnh. 
 
Theo Tiền Hán thư, quận Nhật Nam, gồm 5 huyện Chu Ngô, Tỷ Ảnh, Lư Dung, Tây Quyển, Tượng Lâm và là địa bàn thành phố Đà Nẵng và các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định ngày nay.
 
Khoảng năm 192 (niên hiệu Sơ Bình thứ 3 - Hán Hiếu Ðế - Trung Quốc) một thủ lĩnh vùng Tượng Lâm tên là Khu Liên (Kiu Liên), nhân lúc nhà Hán suy yếu đã nổi dậy giết quan Huyện lệnh, lập ra vương quốc Lâm Ấp. 
 
Năm 347 (Vĩnh Hòa thứ 3 đời Tấn Mục Ðế - Trung Quốc), vua Lâm Ấp là Phạm Văn tiến quân ra Bắc chiếm cả quận Nhật Nam, lấy Hoành Sơn làm ranh giới phía Bắc của Lâm Ấp. Như vậy, biên cương Lâm Ấp lúc này đã trải dài từ phía nam Hoành Sơn đến vịnh Cam Ranh ngày nay. 
 
Từ đó về sau, trải qua các thời kỳ Tần, Tống, Tề, Lương (thời Nam Bắc triều, Trung Quốc) đến thời Tùy Ðường (thế kỷ thứ VI-X) mối quan hệ giữa quan quân cai trị phong kiến Trung Hoa ở Giao Châu - An Nam (nay là Bắc Việt Nam) và vương quốc Lâm Ấp liên tục diễn ra nhiều biến động, khi hòa, khi chiến; nhưng về căn bản quốc gia Lâm Ấp vẫn giữ được vùng đất của mình từ Hoành Sơn trở về Nam. 
 
Từ thời kỳ cuối của quốc gia Lâm Ấp (Hoàn Vương, Chiêm Thành, Chămpa) cho đến trước khi sáp nhập vào Ðại Việt vùng đất Quảng Ngãi là Cổ Lũy động thuộc châu Amaravati.
 
Bên cạnh các nguồn sử liệu cổ Trung Hoa và sử liệu thời phong kiến Việt Nam, khoảng từ đầu thế kỷ XX, nhiều công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu, sử gia phương Tây và tiếp theo đó là các công trình của các nhà nghiên cứu Việt Nam về vùng đất Nam Á - Ðông Nam Á đã soi rọi phần nào một số vấn đề về các biến động xã hội, chế độ chính trị, cư dân Ðông Nam Á trong khoảng thời gian từ thế kỷ thứ I trước CN đến thế kỷ thứ X sau CN, trong đó có vùng đất nay là tỉnh Quảng Ngãi.
 
Theo các nhà sử học Kern (Ðức), Cabaton (Pháp), Holl (Anh), vào khoảng thế kỷ II trước CN, người Hinđu từ khu vực phía Tây thiên di đến vùng hạ lưu sông Mê-kông, tập hợp một số bộ lạc sống rải rác trong vùng, thành lập vương quốc Phù Nam, đóng đô ở Ốc Eo (nay thuộc tỉnh Ðồng Nai) với vị vua đầu tiên là Kaudinya. Từ thế kỷ thứ I đến thế kỷ thứ V vương quốc Phù Nam trở thành một quốc gia hùng mạnh, biên cương trải dài từ biển Ðông đến tận vịnh Bengal (Ấn Ðộ).(2)
 
Trước đó, ở vùng ven biển Ðông Nam Á, cư dân nói tiếng Malayô - Pơlynêxia xuất phát từ ven biển Quảng Ðông (Trung Quốc), tràn xuống vùng ven biển phía Nam, một bộ phận ở lại trở thành tổ tiên của người Chăm, một bộ phận tiếp tục thiên di lên vùng núi Trường Sơn, chinh phục và hòa huyết với cư dân bản địa tại cao nguyên Ðăklăk, cao nguyên Plâycu và trở thành tổ tiên của các tộc người Ê đê, Gia rai ngày nay.(3)
 
Sau khi thiết lập vương quốc phía Nam, người Hinđu tiếp tục chuyển về phía đông, dọc theo các sườn đồi, tràn xuống vùng đất của người Chăm, áp đặt nền văn minh Hinđu trên vùng đất này, đẩy một bộ phận cư dân Malayô - Pôlinêxia chuyển đến vùng Trường Sơn (4). Kiu Liên, thủ lĩnh đã thiết lập vương quốc Lâm Ấp chính là một người Chăm gốc Hinđu.
Tượng nữ thần Uma (TK X) tìm thấy ở Đông Phước, Bình Sơn.
 
 
Chịu  ảnh hưởng nền văn minh Hinđu, vương quốc Chăm là một liên minh bao gồm nhiều tiểu quốc (Mantala) với nhiều sắc tộc khác nhau (Polyethnic) do một tiểu vương cai quản. Mỗi tiểu quốc có kinh độ riêng, với tổ chức kinh tế, chính trị, quân sự độc lập. Những tiểu quốc nhỏ yếu thần phục tiểu quốc lớn mạnh và vị vua hùng mạnh nhất vương quốc được gọi là Rojàdhiràja (vua của các vua). 
 
Trên địa bàn vương quốc Chăm có ít nhất 4 tiểu quốc đã từng tồn tại, đó là: Amaravati (bao gồm vùng đất nay là Quảng Nam, Ðà Nẵng, Quảng Ngãi), Vijaya (Bình Ðịnh, Phú yên), Kautharu (Khánh Hòa), Panduranga (Ninh Thuận, Bình Thuận). Vùng đất Quảng Ngãi ngày nay thời vương quốc Chăm có tên gọi theo âm Hán Việt là Cổ Lũy động, thuộc tiểu quốc Amaravati; theo truyền thuyết nằm dưới sự cai quản của dòng  tộc Cau (Kramuk Varish).(5)
 
Cũng như nhiều quốc gia cổ vùng Ðông Nam Á, tín ngưỡng cổ truyền của người Chăm theo thuyết vũ trụ  lưỡng nghi (dualisme cosmologique): âm/dương; mẹ/cha; nước/đất; biển/núi..., đồng thời dung hòa với những tôn giáo, tín ngưỡng du nhập từ Ấn Ðộ như Hinđu giáo, Phật giáo. 
 
Trong khoảng 15 thế kỷ tồn tại của vương quốc Chăm, mặc dù trải qua nhiều biến động phức tạp do những mối quan hệ nội tại cũng như quan hệ với các lân quốc, người Chăm đã xây dựng một quốc gia phát triển và nền văn hóa độc đáo mà dấu vết còn để lại đến ngày nay là những tháp Chăm, những tòa thành cổ, những di tích cảng thị, tiêu biểu là thánh địa Mỹ Sơn của vùng Amaravati và tháp Pơnagar của vùng Kauthara. 
 
Trên vùng đất Quảng Ngãi ngày nay, thành cổ Châu Sa (xây dựng khoảng thế kỷ XI-XIII) và phế tích tháp Chánh Lộ là những di tích đặc sắc, thể hiện tài hoa và trí tuệ của người Chăm, một tộc người mà trong tiến trình lịch sử đã trở thành một bộ phận trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
 
Cùng với di sản vật thể, người Chăm còn để lại nhiều di sản văn hóa phi vật thể mà ngày nay đã hòa nhập vào di sản văn hóa phi vật thể của người Việt vùng ven biển miền Trung, trong đó có Quảng Ngãi, tạo thành những sắc thái riêng, độc đáo trong vườn hoa văn hóa đa dạng, nhiều sắc thái của các dân tộc Việt Nam. 
 
Tín ngưỡng thờ mẹ đất (Pônagar), tục thờ cúng cá ông, kỹ thuật chế biến đường, kỹ thuật đi biển và đánh bắt cá biển, cách chế biến món ăn từ các nguyên liệu địa phương, như don, cơm hến, mắm nhum... mà hiện nay người Quảng Ngãi lưu giữ là những di sản văn hóa phi vật thể có nhiều yếu tố kế thừa từ văn hóa cộng đồng người Chăm.
 
Lê Hồng Khánh 
 

 

.