Dần xóa hoài nghi về mắc ca

18:31, 15/06/2020 [GMT+7]
.
(Baoquangngai.vn)- Sau nhiều năm trồng thử nghiệm, vượt qua những hoài nghi, lo ngại, "quả ngọt" từ cây mắc ca đã chứng minh đây là cây trồng phù hợp với điều kiện tự nhiên trên vùng đất Sơn Tây. Mang hiệu quả kinh tế cao, đầu ra ổn định, có bảo hiểm đảm bảo lợi ích cho người dân nếu trồng thất bại, đây hứa hẹn là cây xóa đói giảm nghèo cho đồng bào Cadong ở huyện vùng cao này. 
 
“Quả ngọt” sau nhiều năm
 
Khi vườn mắc ca rộng 2 ha ở thôn Đăk Doa, xã Sơn Liên, huyện Sơn Tây bước vào mùa thu hoạch, người dân địa phương ồ ạt đổ về tham quan, tận mắt nhìn thấy thành quả của huyện sau nhiều năm trồng thử nghiệm.
 
Ông  Đinh Văn Chiến, ở xã Sơn Liên, bày tỏ: “Tôi từng lo ngại, mắc ca rồi cũng giống như một số cây trồng mới từng thử nghiệm rồi thất bại. Thế nhưng, khi tận mắt chứng kiến mắc ca sai quả, tôi mới có niềm tin về hiệu quả của cây trồng này”.
 
Niềm vui của lãnh đạo huyện Sơn Tây khi mắc ca sai quả sau nhiều năm thử nghiệm.
Niềm vui của lãnh đạo huyện Sơn Tây khi mắc ca sai quả sau nhiều năm thử nghiệm.
 
Không chỉ người dân, nụ cười và sự lạc quan hiện rõ trên khuôn mặt những người đã dành tâm huyết “một mất, một còn”, sống cùng mắc ca. Bí thư Đảng ủy huyện Sơn Tây Lê Văn Tùng nhớ lại, vào năm 2014, khi chính quyền huyện Sơn Tây quyết định chi tiền tỷ trồng thí điểm hàng nghìn cây mắc ca trên diện tích 6 ha, dư luận, nhiều người bày tỏ sự hoài nghi về tính khả thi của loại cây này. 
 
“Sự hoài nghi không phải là không có cơ sở khi đây là cây trồng còn mới mẻ với người dân, tính hiệu quả trước mắt không có. Thế nhưng, bằng sự quyết tâm, táo bạo, kiên định với con đường đã chọn, đến hôm nay mô hình cho quả ngọt như mong đợi, giải tỏa sự lo lắng của huyện nhà từ nhiều năm nay”, ông Tùng bộc bạch. 
 
Trong 6 ha mắc ca trồng triển khai ở Sơn Tây, phần diện tích ở Sơn Liên và Sơn Long phát triển mạnh nhất. Cây cao lớn, tán lá xum xuê. Từng chùm mắc ca nặng trĩu oằn cành, phơi mình nơi đồi cao. 80%- 95% cây ra hoa đều đậu trái. 
 
Ở lứa đầu tiên thử nghiệm, mỗi cây cho thu hoạch từ 3- 5kg quả tươi. Đây là thành quả chưa có sự tác động nhiều trong quá trình chăm sóc để khi triển khai ra thực tế, mô hình có thể cho hiệu quả cao nhất.
 
Theo tính toán, so với các loại cây trồng khác, mắc ca cho giá trị kinh tế cao hơn rất nhiều. Trung bình mỗi ký mắc ca tươi tại vườn có giá khoảng 100.000 đồng. Như vậy, mỗi héc ta mắc ca mang lại giá trị trên 70 triệu đồng/ năm. Nhiều năm sau đó, giá trị càng cao hơn. Trong khi đó, đối với cây keo, sau 5 năm trồng, 1 ha thu hoạch được khoảng 70 triệu, bình quân mỗi năm người dân kiếm được 14 triệu, chi phí đã hơn một nữa.
 
Mắc ca cho giá trị kinh tế cao hơn so với cây keo.
Mắc ca cho giá trị kinh tế cao hơn so với cây keo.

Trong khi đó, vốn đầu tư ban đầu đối với mắc ca thấp. Theo tính toán, một cây mắc ca trồng trong phạm vi diện tích khoảng 45m2, giá khoảng 100.000 đồng/1 cây. Cũng với diện tích này, nếu trồng keo cần đến gần 135 cây keo con, tức cần đến gần 300.000 đồng cây giống. Đầu tư thấp nhưng mắc ca thân là cây gỗ có tuổi thọ đến hơn 100 năm, thời gian thu hoạch ít nhất 50 năm. 
 
“Chưa kể đến những tác hại mà cây keo gây ra, sau 5 năm chặt bán xong phải đầu tư lại cho cây trồng. Trong khi đó, khoảng 5 năm đầu tiên xây dựng cơ bản cho mắc ca, người dân còn trồng xen canh được cây trồng ngắn ngày. Điển hình như cách làm của gia đình ông Nguyễn Lên, ở xã Sơn Liên, huyện Sơn Tây”, ông Tùng nói.
 
Gia đình ông Lên có vườn mắc ca 6,5 ha gần 3 năm tuổi. Trong thời gian chờ mắc ca cho quả, ông đã thu hơn 200 triệu từ cây mì, cây đậu phộng và hiện đang triển khai trồng cây nghệ. Giá trị kinh tế cao hơn, trong khi công, đầu tư chăm sóc, vận chuyển thuận lợi hơn so với cây keo, dễ bảo quản.
 
Mắc ca không... "mắc cạn"
 
Theo Phó Chủ tịch Hiệp hội mắc ca Việt Nam- Giáo sư Nguyễn Lân Hùng nhận định: “Thời gian đầu thực hiện mô hình mắc ca ở Sơn Tây, nhiều người cho rằng mắc ca không phù hợp với điều kiện tự nhiên ở đây. Tuy nhiên, thực tế đã chứng minh, thời tiết ở miền Tây Quảng Ngãi “rất Tây Nguyên” và thuận lợi cho “nữ hoàng quả khô” phát triển. Nếu như năm thứ 5, cây bắt đầu cho quả, bước sang năm thứ 6, 7 trở đi trái sẽ rất nhiều. Chắc chắn đến năm thứ 10 đây sẽ là cây làm giàu”.
 
Cái vấn đề quan trọng nhất khi triển khai mô hình này, người dân cần phải chú ý, đó chính là việc chọn nguồn giống chất lượng, tránh chọn nguồn giống kém hiệu quả. 
 
Chính quyền địa phương đang có định hướng nhân rộng mô hình trong thời gian đến.
Chính quyền địa phương đang có định hướng nhân rộng mô hình trong thời gian đến.


Hiện nay, Hiệp hội mắc ca Việt Nam đã là tổ chức thành viên của Hiệp hội mắc ca thế giới và đã đầu tư 80 tỷ đồng cho hai vườn ươm lớn ở Lâm Đồng, liên kết với các hộ dân để cung cấp nguồn giống đảm bảo.

Còn vấn đề về đầu ra, Hiệp hội khẳng định bao tiêu cho người dân, thu mua với giá ít nhất 80% giá thị trường nếu người dân không bán được. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, đến nay Hiệp hội vẫn chưa mua được ký mắc ca nào của người dân, do đầu ra ổn định, nhu cầu thị trường lớn. 

Đặc biệt, hiện nay, ngành nông nghiệp đã xếp mắc ca vào danh mục cây lâm nghiệp ngoài gỗ. Đây là một cơ sở pháp lý để người dân và ngành chức năng tin tưởng vào loại cây trồng này hơn. Ngân hàng LienVietPostBank, từ nhiều năm nay đã đồng hành, “đỡ đầu” cho mắc ca. Đối người dân không có điều kiện triển khai mô hình, ngân hàng sẵn sàng hỗ trợ 80% vốn đầu tư để người dân đầu tư nguồn giống, chăm sóc cây...
 
“Đặc biệt, ngân hàng chỉ thu lãi ở năm thứ 5, tức là khi mắc ca cho thu hoạch. Chúng tôi đánh giá cao vào triển vọng của cây trồng này. Tuy nhiên, nếu mô hình không đạt hiệu quả, mắc ca vẫn có gói bảo hiểm đảm bảo cho lợi ích của người dân”, Chủ tịch HĐQT Ngân hàng LienVietPostBank Huỳnh Ngọc Huy nhấn mạnh.
 
Theo Bí thư huyện ủy Sơn Tây Lê Văn Tùng, thực tiễn đã kiểm chứng và trả lời cây mắc ca phù hợp với điều kiện tự nhiên ở vùng đất Sơn Tây, đầu ra đảm bảo. Việc quan trọng nhất của huyện nhà trong thời gian đến, đó là nhân rộng mô hình mà trước hết là giúp người dân nhận thức đúng về tiềm năng, giá trị của mắc ca.
 
Khi người dân đã hiểu, đồng hành, chính quyền địa phương tìm cách tạo điều kiện cho họ, nhất là hộ nghèo, sớm tiếp cận từ các nguồn vốn, chính sách phù hợp để triển khai mô hình. Vấn đề kỹ thuật đã có các cán bộ, chuyên gia nông nghiệp hỗ trợ. 
 
“Khi diện tích đạt yêu cầu có thể hướng đến việc chế biến tại chỗ, nâng tầm giá trị cho sản phẩm trong tương lai, từng bước xóa đói giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số ở địa phương”, ông Tùng nhấn mạnh.
 
Bài, ảnh: Thiên Hậu
 
.
.