Cập nhật lúc: 14:28, 22/12/2013 [GMT+7]
.

Lời giải cho lũ lịch sử


(Báo Quảng Ngãi)- Theo các bậc cao niên, Quảng Ngãi đã oằn mình trong 3 trận đại hồng thủy (năm 1964, 1986, 1999) và trận lũ trung tuần tháng 11 vừa qua là trận thứ 4, nhưng đã soán ngôi 3 trận lũ trước, gây thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản. Dù đến nay với sự chia sẻ của đồng bào cả nước, cuộc sống người dân vùng lũ dần ổn định. Nhưng trong họ vẫn còn câu hỏi  chưa có lời giải là vì sao lũ ngày càng khốc liệt?    

TIN LIÊN QUAN

Mưa nhỏ, thiệt hại lớn

Theo số liệu của Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn tỉnh, từ đêm 13-15.11, lượng mưa trung bình đo được ở các địa phương trong tỉnh phổ biến từ 200- 300mm, một số nơi mưa to hơn như: Ba Tơ 594 mm, Minh Long 353mm, Giá Vực 422mm, Sơn Giang 344mm, Sơn Tây 379mm… Nhìn trên bản đồ mưa đo được chúng ta dễ dàng nhận thấy với lượng mưa như vậy thì không thể tạo ra “quả bom nước” khổng lồ đẩy mực nước các sông Trà Khúc lên 8,76m, trên báo động ba 2,26m, cao hơn đỉnh lũ lịch sử năm 1999 là 0,40m; sông Vệ tại trạm Sông Vệ 6,03m, trên báo động ba 1,53m; cao hơn đỉnh lũ lịch sử năm 1999 là 0,04m…, nhấn chìm một khu vực rộng lớn.

 

Lũ đi qua, sông Trà Khúc trơ đáy.
Lũ đi qua, sông Trà Khúc trơ đáy.


Lý giải hiện tượng này, các cơ quan chức năng cho rằng, do mưa lớn liên tiếp trong khoảng thời gian ngắn khiến nước không thể thoát hết được, nhưng người dân thì "không tâm phục, khẩu phục" với nhận định trên. Bởi lẽ, lũ lịch sử năm 1999 mưa lớn diễn ra trong 5 ngày liên tiếp với lượng mưa một số nơi đo được lên đến 1.700mm.

Để đảm bảo an toàn tính mạng cho người dân trước cơn đại hồng thủy, các địa phương trong tỉnh đã phải di dời, sơ tán 17.344 hộ/70.410 nhân khẩu đến nơi cao ráo, an toàn. Trong đó, có gần 100 nghìn ngôi nhà chìm trong nước lũ. Theo thống kê của UBND tỉnh, trận lũ lịch sử vừa qua đã gây thiệt hại ước tính khoảng 1.760 tỷ đồng. Trong đó, có 16 người chết và mất tích, 210 ngôi nhà bị đổ sập hoàn toàn, 400 phòng học, 785 ngôi nhà và gần 200 trạm y tế, nhà văn hóa bị lũ gây hư hỏng. Hậu quả để lại sau lũ là tỷ lệ hộ nghèo sẽ tăng thêm 1%, tương đương với 470 hộ dân với gần 2.000 nhân khẩu, nâng tổng số hộ nghèo toàn tỉnh lên con số hơn 47.000 hộ.

 Sa mạc mùa khô, biển nước mùa mưa

Sau khi trận đại hồng thủy đi qua, con sông Trà hung dữ ngày nào giờ hơn phân nửa là một bãi cát lớn. “Hết lũ, con sông Trà chẳng khác nào bãi sa mạc”, ông Tâm, một hộ dân phường Lê Hồng Phong đang dọn đất trồng rau trên sông nói. Lòng sông rộng hơn 400m, nhưng chỉ có mỗi phía bờ Sơn Tịnh có nước. Sông Vệ cũng rơi vào cảnh tương tự, từ cầu Cộng Hòa (Nghĩa Hành) về Cửa Lở (Mộ Đức), vào mùa khô chỉ là những bãi cát rộng lớn, cây cỏ mọc um tùm, nhiều hộ dân tranh thủ khai hoang bãi bồi trồng hoa màu. Hai bên bờ là những hàng tre xanh rì rào trong gió và đâu đó là vết tích của những đợt sạt lở của mùa mưa năm trước để lại.

Nhưng vào mùa mưa lũ, hai con sông cuồn cuộn nước lũ. Đêm 15.11, nước lũ tràn qua thân đê ùa vào thành phố Quảng Ngãi, khiến nhiều người sống phía trong đê hoảng sợ. “Từ khi xây dựng đê bao đến giờ chưa khi nào thấy nước lũ tràn vào thành phố cả”, anh Nguyễn Anh Tuấn, một hộ dân sống trên đường Nguyễn Lương Bằng cho biết.

Truy tìm “thủ phạm”

Đi dọc các huyện miền núi trên địa bàn tỉnh, chúng ta dễ dàng nhận thấy những cánh rừng nguyên sinh dường như đã không còn. Thay vào đó là những cánh rừng keo lấy gỗ bạt ngàn, được phát dọn lớp thực bì bên dưới khá sạch. Do đó, khi có mưa lớn con nước thoát nhanh về hạ lưu gây ra tình trạng ngập lũ. Ngoài ra, các cửa sông trên địa bàn tỉnh đang bị hiện tượng bồi lấp khá nặng khiến cho nước không thoát kịp ra biển cũng là nguyên nhân dẫn đến lũ dâng cao. “Chỉ trong 2 giờ đồng hồ mà nước lũ dâng lên hơn 1m. Thật kinh hoàng”, bà Phạm Thị Dược, xã Hành Tín Tây (Nghĩa Hành) nhớ lại.

 “Tôi cho rằng lũ lớn bất ngờ có nguyên nhân do mất rừng là có thật. Bởi rừng nguyên sinh có lớp thực bì như là vùng đệm vừa giữ nước vào mùa hạ, cung cấp  cho các sông đảm bảo hạ lưu không bị “khát”. Còn mùa mưa là “bờ đê” hạn chế dòng nước tích tụ chảy ồ ạt về hạ nguồn các nhánh sông, suối”, ông Dương Văn Tô - Giám đốc Sở NN & PTNT nói.

 

Đêm 15.11.2013 lũ lịch sử đã tràn qua đê bao Trà Khúc
Đêm 15.11.2013 lũ lịch sử đã tràn qua đê bao Trà Khúc


Lời nguyền tài nguyên “ăn của rừng rưng rưng nước mắt”, thật chính xác. Cái giá phải trả cho sự đối xử tệ hại với rừng, với thiên nhiên là tất yếu.

Giải pháp nào cho dân vùng lũ?

Trước thực trạng lũ lụt ngày càng bất thường, mức độ thiệt hại ngày càng nặng nề thì vấn đề tìm giải pháp để tránh, trú lũ cho người dân là hết sức cấp thiết. Mới đây, tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII, Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Trần Nam đã cung cấp thông tin về mô hình chòi chống lũ và đề nghị Quốc hội ủng hộ triển khai. Đây được xem là đáp án đúng giúp người dân vùng lũ an tâm hơn mỗi khi lũ tràn về. Ông Phạm Tấn Hoàng, Giám đốc Sở Xây dựng cho biết, tỉnh ta được Chính phủ thí điểm xây dựng nhà tránh lũ cho người dân nghèo vùng lũ với 100 ngôi nhà ở hai huyện Nghĩa Hành và Bình Sơn. Số tiền hỗ trợ 26 triệu đồng/nhà, trong đó Trung ương hỗ trợ 10 triệu; vốn vay Ngân hàng Chính sách Xã hội 10 triệu; UBMTTQVN tỉnh 4 triệu và UBMTTQVN huyện 2 triệu.

“Tôi cho rằng hiệu quả của việc xây nhà tránh lũ là rất tốt. Điều đó thể hiện qua cơn lũ vừa rồi. Tuy nhiên, hiện số người được hưởng lợi từ dự án còn thấp. Nếu giai đoạn 2 của dự án được triển khai thì số lượng người nghèo ở tỉnh cần được hỗ trợ lên đến  6.000 căn nhà. Ngoài ra, việc hỗ trợ để xây nhà tránh lũ cũng cần tăng lên 40 triệu đồng/căn vì đa phần người được hỗ trợ là người nghèo”, ông Hoàng nói.

Về giải pháp lâu dài là phải giảm thủy điện tăng trồng và bảo vệ rừng.Trước thực trạng rừng nguyên sinh đang dần cạn kiệt, mưa lũ lại liên tiếp xảy ra với cường độ lớn dần và thủy điện mọc ra ngày càng nhiều. Mới đây, UBND tỉnh đã loại bỏ 6 dự án thủy điện trên địa bàn tỉnh. Đây được xem là một động thái tích cực nhằm giữ được rừng, ổn định đời sống dân sinh vùng được quy hoạch thủy điện, cũng như đảm bảo các dòng sông suối không bị “chết” và hạ lưu sẽ giảm được những trận lũ kinh hoàng.

Theo thống kê trên địa bàn tỉnh quy hoạch xây dựng 26 dự án thủy điện. Qua rà soát, Sở Công thương đã tham mưu cho UBND tỉnh ra quyết định tạm dừng 14 dự án. Ông Nguyễn Xuân Thủy, Giám đốc Sở Công thương cho rằng, việc đình chỉ các công trình thủy điện lúc này để tập trung cho các dự án phát triển công nghiệp khác là điều cần thiết. Thêm nữa, hiện nay, Tập đoàn Sembcorp của Singapore đang triển khai xây dựng Nhà máy nhiệt điện và tỉnh cũng đang kêu gọi đầu tư Dự án điện khí hỗn hợp theo phê duyệt của Chính phủ, nên trong tương lai, tổng sản lượng điện của miền Trung và của tỉnh sẽ không thiếu hụt nhiều. “Chúng ta phải sử dụng thủy điện kết hợp với thủy lợi ở các hồ lớn để giữ nước cho đồng bằng. Vì vào mùa hạ, nhu cầu nước sinh hoạt và sản xuất là vô cùng quan trọng. Làm thủy điện từ hồ thủy lợi  là để giữ nước cho mùa khô phục vụ nông nghiệp và phát triển cây công nghiệp”, ông Thủy nói.

Trong khi đó, theo lãnh đạo Sở NN&PTNT, hiện toàn tỉnh có 120.000 ha rừng phòng hộ. Tuy nhiên, diện tích  rừng phòng hộ thực sự có thì không phải như thế. Một điều đáng lo ngại nữa là, hiện nay các huyện miền núi đều kiến nghị chuyển đổi một số diện tích rừng phòng hộ nghèo sang trồng rừng sản xuất với lý do dân thiếu đất sản xuất. Ông Đặng Ngọc Dũng, Bí thư Huyện ủy Sơn Hà, bày tỏ lo lắng: “Tôi tha thiết đề nghị không nên xây thêm công trình thủy điện trên các nhánh sông thượng nguồn sông Trà Khúc, vì bà con ở các vùng hạ du cảm thấy rất bất an. Nếu xây dựng các dự án thủy điện như Trà Khúc 1, Đăkdrinh 2… sẽ làm cho trung tâm thị trấn Di Lăng và các xã lân cận có nguy cơ thành hồ chứa nước, 25.000 dân sẽ bị ảnh hưởng bởi thủy điện”.    
                     

Bài, ảnh: LÊ ĐỨC
 

.
.